Vua Cha Ngọc Hoàng Đại Đế

Tín ngưỡng Tam Tứ Phủ gắn với việc thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngài có ban thờ riêng trong các Đền, Phủ, nhưng không phải ở vị trí cao nhất, vì ở vị trí hậu cung luôn là ban thờ Tam toà Thánh Mẫu. 

Một số đền không phải là điện Mẫu thì Đức Vua Cha Ngọc Hoàng được thờ ở vị trí trọng tâm, như ở đền Tam Phủ trong khuôn viên chùa Thầy đã thờ riêng Tam vị đức Vua cha.

THẦN TÍCH VUA CHA NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ

Việt Nam

Ở nước ta tới giờ vẫn còn những nơi riêng thờ Ngọc Hoàng như đến Đậu An ở làng An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Theo thần tích còn lưu giữ trong đền, vào năm “Thiên Định nhị niên" có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ trời để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu... Đền Đậu An nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, xung quanh có hồ nước trong xanh bao bọc. Do đó câu đối ở đền chép: Thiên Định kỷ nguyên, Thụy Ứng Ngọc Hoàng lai giáng hạ Địa linh thiên cổ, điện đài thượng để ngự long đầu. Dịch: Thiên Định năm xưa, Thụy Ứng Ngọc Hoàng xuống hạ thế Đất thiêng nghìn tuổi, điện đài thượng đế ngự đầu rồng.

Ngọc Hoàng thượng đế ở đền Đậu An còn có cả niên hiệu “Thiên Định" như một triều đại thật sự. Theo thông tin ở đây thì ngôi đến này đã được dựng từ năm 226 trước Công nguyên. Rõ ràng tục thờ Ngọc Hoàng là tín ngưỡng bản địa của người Việt bởi vì lúc đó nước ta còn chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc. Theo chính sử thì mãi tới năm 218 TCN thì nhà Tần lần đầu mới đánh chiếm Bách Việt. Trước đó Văn Lang, Âu Lạc là những quốc gia hoàn toàn độc lập, không liên quan gì tới phương Bắc.

Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Tam Phủ

Ngọc Hoàng Thượng đế là vị vua của Thiên đình, cai quản toàn bộ bầu trời, mặt đất, biển cả, và cõi âm phủ. Ngọc Hoàng đứng đầu tất cả các thần, tiên, có quyền lực tối cao với các quyền năng tự nhiên như mây mưa sấm chớp, nước lửa... Ngọc Hoàng có quyền ra lệnh cho các vị thần thực hiện các ý định của mình, thường là những điều tốt đẹp. Ngọc Hoàng cũng là người xét phong cho các vị thần, hoặc xét phạt các thần tiên.

Trong Đạo giáo, Ngọc Hoàng vẫn ở dưới Tam Thanh, do Nguyên Thuỷ Thiên Tôn chỉ định làm vua. Ngọc Hoàng được cho là ở và làm việc tại một cung điện trên trời gọi là Kim Khuyết Vân cung Linh Tiêu bảo điện (gọi tắt là điện Linh Tiêu), nơi có rất nhiều tiên nữ hầu hạ, và các thiên tướng, thiên binh canh gác. Trong đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, là đấng thần chủ tối cao, tuy nhiên lại không được thờ cúng nhiều.

Trung Hoa

Ngọc Hoàng Đại Đế, gọi tắt là Ngọc Đế là vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên đình trong quan niệm tại Trung Quốc và tại Việt Nam.

Theo một số phim ảnh tiểu thuyết, Ngọc Đế (Thiên Đế) là người phàm, tu luyện một nghìn bảy trăm năm mươi kiếp, mỗi kiếp mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm, Thiên Đế cai quản toàn bộ lục giới: Nhân, Thần, Ma, Yêu, Quỷ, Tiên. Là người có quyền hạn và tu vi lớn nhất lục giới nên được các chư thần kính mộ phong làm Đế, Thiên đế phân chia pháp lực của mình cho các vị thần cai quản các nơi và các chức vị khác nhau, vì thế trong khá nhiều tiểu thuyết Thiên Đế không có pháp lực mà chỉ nhờ các thần tiên khác, cũng theo nhiều tiểu thuyết vị thầy hướng dẫn có pháp lực cao nhất trong phật giáo là Phật Tổ Như Lai thay vì Ngọc Hoàng Đại Đế (Tây du ký).

Từ thượng cổ, người Trung Quốc đã tôn thờ một vị vua trên trời, gọi là Thượng Đế. Tuy nhiên từ đời Thương thì Thượng Đế đã hoàn toàn chỉ là một vị thần, không có quyền năng sáng thế. Vị Vua trời này được cho là sống tại một cung điện tại chính giữa bầu trời, tại Thiên Cực Bắc. Đến các triều đại về sau, vị thần này được gọi dưới nhiều danh hiệu khác nhau:

  • Hoàng Thiên, Hạo Thiên, Thiên Đế: đời Chu
  • Thái Nhất: Thiên quan thư trong Sử kí của Tư Mã Thiên dùng từ này
  • Thái Vi Ngọc Đế, Tinh Chủ Thái Vi viên: thời Hán Vũ đế
  • Phạm Thiên Ngọc Đế, Đế chủ Thiên Thị Viên: thời Hán Tuyên đế
  • Diễm Hoa Thiếu Vi Ngọc Đế, Thiên Tiên Định Vị: thời Hản Ai đế
  • Tử Vi Ngọc đế: đời Hán Quang Vũ để
  • Ngọc Hoàng Đạo Quân, Cao Thượng Ngọc Đế: thời Nam Triều
  • Hạo thiên Kim khuyết Vô thượng Chí tôn Tự nhiên Diệu hữu Di la Chí chân Ngọc hoàng Thượng đế, Huyền khung Cao thượng Ngọc hoàng Đại đế.
  • Đến đời Minh, danh hiệu đầy đủ là: Cao thiên Thượng thánh Đại từ Nhân giả Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn Huyền khung Cao Thượng đế. (Nghĩa là Vị thánh tối cao trên đỉnh trời, vô cùng nhân từ, là Ngọc Hoàng, bậc Thiên tôn vĩ đại, Huyền diệu lớn lao làm chủ trên cao).

Ngoài ra Ngọc Hoàng Thượng để còn được gọi bằng các tôn hiệu: Thiên Đế, Ngọc Đế.

ĐỀN THỜ VUA CHA NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ

Đền Đậu An (Đền Ngọc Hoàng Thượng Đế )

Nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, được bao bọc bởi hồ nước trong xanh in bóng những cây nhãn lồng cổ thụ, đền Đậu An là nơi duy nhất ở Việt Nam thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng các thiên thần. Ngôi đền tọa lạc tại thôn An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, cách thành phổ Hưng Yên khoảng 12 km.

Theo thần tích còn lưu giữ trong đến, vào năm Thiên Định nhị niên (trước Công Nguyên) có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đền Đậu An được chính thức ghi vào lịch sử với tên gọi Thụy Ứng quán vào năm 226 trước Công nguyên. Sau này, Thụy Ứng quán được xây dựng mở rộng trở thành quần thể di tích mang tên gọi đền Đậu An như ngày nay.

Đền Đậu An có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) gồm 3 tòa tiền tế, thượng điện và hậu cung. Chất liệu tạo nên ngôi đền được tạc từ những khối đá nguyên khối. Phần lớn nguyên liệu làm đến là từ gỗ lim, nhưng tại cung Đệ nhất và Đệ nhị của tòa thượng điện lại được làm bằng đá, có tấm nặng tới hàng chục tấn được các nghệ nhân và thợ thủ công đương thời chạm khắc long cuốn thủy tinh xảo từ cột trụ, câu đối, hoành phi tới bức tường.

Trải qua bao biến động của lịch sử cùng với thời gian, ngôi đền vẫn đứng vững cho đến tận ngày nay. Ngoài kiểu kiến trúc cổ kính, đền Đậu An còn lưu giữ được nhiều di tích cổ có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ. Nổi bật và đặc sắc nhất phải kể đến tòa tháp Cửu trùng bằng đất nung được xây dựng từ thời Lý – Trần. Họa tiết và chất liệu của tháp vừa có dáng dấp tháp đình bảng, vừa có nét Chăm Pa, khắc hình cánh sen, chim thần Gara. Tháp cao chín tầng biểu thị chín tầng mây cao vời vợi của chốn cửu trùng. Ngoài tháp Cửu trùng còn có nhang án (bệ hoa sen) bằng đất nung đặt trong cung cấm, có cùng niên đại với tháp Cửu trùng. Tại đền Đậu An còn lưu giữ chiếc khánh đá cổ niên hiệu Vĩnh Trị, chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng và hai tấm bia đá thời Lý, Nguyễn ghi lại niên đại kiến trúc và những người có công tôn tạo, mở rộng trùng tu đền.

Trước khi ngôi đến được Bộ VH-TT&DL công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1989, thì một phần của ngôi đến đã bị phá đi làm trường học tạm và điện chính trở thành hội trường của xã. Sau khi được công nhận là di tích cấp quốc gia, ngôi đền mới được trung tu phần tháp cổ 9 tầng vào năm 2001 nhưng hình dáng chưa được khôi phục như hiện trạng ban đầu. Trong khi đó, rất nhiều hạng mục khác của đền Đậu An đã xuống cấp nghiêm trọng như trong 3 gian tòa đá và hậu cung đã lún nứt chỉ dùng cột để chống đỡ. Các mái ngói cũng đã dột nát, các cột và vì kèo đã bị mối ăn.

Phần lễ hội hàng năm được tổ chức tại nơi đây cũng có nhiều điều thú vị, thể hiện sự giao tiếp hòa nhập cộng đồng làng xã. Lễ hội đền Đậu An diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày 12 tháng 4 âm lịch. Nét đặc sắc của lễ hội là phần rước kiệu thờ Thiên Tiên, Địa Tiên và đặc biệt là cảnh đánh hồ. Theo quan niệm, các lực sỹ và mẹ con nhà Khó phải đuổi được hổ ra khỏi làng thì dân làng được mùa, ăn nên làm ra. Trái lại thanh niên các làng phải chặn không cho hổ sang nhà mình. Khi trò diễn đánh hổ. thì lá cây si trang trí tổ hỗ trở thành vật thiêng. Mọi người ào lên, giành giật từng cành si, lá si để cầu mong sự an lành và hạnh phúc. Hàng năm, các Phật tử trong và ngoài nước đến đây để dâng hương, tham quan và làm công đức. Ngôi đền cổ Đậu An đã thực sự không làm phụ công các Phật tử đến đây khi họ cầu luôn thấy ứng. Đến với quần thể di tích đến Đậu An hôm nay, khách thập phương sẽ như được hòa mình vào không gian của những thiên thần thoại cổ tích, không gian của làng quê văn hóa Việt Nam với những nếp ứng xử văn hóa ấm áp tình người, mang đậm chất thiêng.

Đền Bằng Sở 

Ở thôn Bằng Sở, Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội cũng có đền thờ đức vua cha, tức Ngọc Hoàng thượng đế.

KẾT LUẬN

Enter your text here...

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Vua Cha Bát Hải Động Đình

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.

Click Here to Leave a Comment Below 0 comments

Leave a Reply: