Ông Hoàng Tám

Ông Hoàng Tám là con Vua Cha Bát Hải Động Đình, đứng hàng thứ tám trong Mười Ông Hoàng. 

Dân gian lưu truyền Ông Hoàng Tám không giáng trần, nhưng có tích cho rằng Ông giáng trần và hiện thân là Tướng Quân Nùng Trí Cao, vị anh hùng nổi tiếng đã có công đuổi đánh quân Tống bảo vệ biên cương bờ cõi, sự bình yên cho nhân dân ta.

“Gương anh dũng ngàn xưa lưu để 

Đất Cao Bằng tú khí chung linh

Trời Nam có Đức Thánh linh

Họ Nùng , Đệ Bát anh linh tuyệt vời”

Chính tiệc Ông Hoàng Bát Nùng là ngày mồng 10/01.

Sự Tích Ông Hoàng Tám

Tướng Quân Nùng Trí Cao nổi tiếng là vị Thánh tướng có chí khí và khí phách vô song. Ngài đã nhiều lần đánh chiếm đất của nhà Tống (Trung quốc) để lập một nước riêng. Một vị tướng người thiểu số đã nhiều lần khiến vua quan nhà Lý khốn đốn và nể phục. Nhà Lý cũng đã có lần bắt được ông, nhưng rồi lại thả và phong thêm chức sắc. Đây là một trang lịch sử thực sự tự hào về một vị tướng lỗi lạc đã từng nhiều lần làm cho nhà Tống điêu đứng.

Vùng đất Cao Bằng xưa được xem là mấu chốt quan trọng giữa nước Đại Việt và nhà Tống nên nhiều lần quân Tống muốn dụ dỗ Nùng Trí Cao về phe mình chống lại nhà Lý của nước Đại Việt. Thế nhưng được vua Lý Thái Tông khuyên nhủ, Nùng Trí Cao trở thành vị lãnh tụ của dân tộc Tày Nùng chiến đấu vì nước Đại Việt trước những lần xâm lược của quân thù.

Theo "Đại Việt sử ký toàn thư”:

Nùng Trí Cao là con của Nùng Tồn Phúc (thủ lĩnh châu Thảng Do)

Năm 1038, Nùng Tồn Phúc chiếm châu Vũ Lặc và Quảng Nguyên, xưng "Chiêu thánh hoàng đế", lập nước "Trường sinh", phong vợ làm "Minh đức hoàng hậu", phong con cả Trí Thông làm "Điền nha vương", đồng thời sắm sửa vũ khí, xây dựng thành trì.

Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đem quân đánh Nùng Tồn Phúc, bắt Nùng Tồn Phúc và Trí Thông đem về kinh đô xử tử, Nùng Trí Cao cùng mẹ chạy đến động Lôi Hỏa, phía Tây Bắc Cao Bằng (thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay).

Năm 1041, hai mẹ con Nùng Trí Cao từ động Lôi Hỏa về chiếm châu Thảng Do, chiêu tập lực lượng, lập nước "Đại Lịch'" Triều đình nhà Lý cử quân lên đánh, bắt Nùng Trí Cao đem về kinh đô nhưng không trị tội mà còn cho Nùng Trí Cao giữ châu Thảng Do, đồng thời cai quản thêm các động: Lôi Hỏa, Bình, An, Bà, châu Tư Lang và được phong làm châu mục Quảng Nguyên.

Năm 1043, vua Lý Thái Tông sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên, phong cho Nùng Trí Cao tước Thái Bảo (một chức quan cao cấp thời Lý).

Năm 1048, Nùng Trí Cao nổi dậy ở động Vật Ác (đất Tống).

Năm 1050, Nùng Trí Cao chiếm động Vật Dương (thuộc đất Tống), lập nước "Nam Thiên", đặt niên hiệu Cảnh Thụy.

“Ông Bát Nùng ra vào sinh tử 

Trượng tung bay tuyết phủ hoa

khai Xá gì đạn lạc tên rơi

Trên đời hồ dễ mấy ai anh hào”

Năm 1053, Địch Thanh (một viên tướng của nhà Tống) dã dẫn quân đi đánh Nùng Trí Cao, Nhà Lý sai Vũ Nhị mang quân tiếp ứng, nhưng do tình thế không cứu vãn nổi nên cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao chấm dứt. 

Năm 1052, sau khi dâng biểu xin cống vua Tống không được, Nùng Trí Cao đã dẫn 5000 quân tiến đánh thành Ung Châu, sau đó xưng “Nhân Huệ Hoàng Đế" , đổi niên hiệu là "Khải Lịch", đặt quốc hiệu "Đại Nam".

năm 1055, trong một lần chống trả lại đội quân hùng hậu của nhà Tống sang xâm lược, binh lực của Nùng Chí Cao bị thất thế, phải cầu viện quân Lý đến giải cứu. Song quân cứu viện chưa đến nơi, vị anh hùng người Tày Nùng đã hy sinh trước mũi giáo quân thù.

Mặc dù do những hạn chế tất yếu, nhưng cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao đã chứng tỏ ý chí quật cường của các dân tộc thiểu số vùng biên giới chống lại các cuộc xâm lược của nhà Tống, góp phần bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Hình ảnh nửa thực, nửa huyền thoại của Nùng Trí Cao đã in sâu trong tâm thức của nhiều dân tộc anh em như: Người Tày, người Nùng, Cờ Lao, La Chí...

Phạm vi ảnh hưởng của Nùng Trí Cao không chỉ bó hẹp trong địa bàn tỉnh Cao Bằng, Lang Sơn, Hà Giang,... mà còn ở một số nước láng giềng như: Trung Quốc, Thái Lan, Mianmar... Nùng Trí Cao được coi là biểu tượng của thánh thần, anh hùng văn hóa.

Chuyện tình Nùng Chí Cao và mối liên quan với nhà Lý

Theo truyền miệng, Trí Cao được viên tướng ẩn danh bảo lãnh đưa về kinh đô ăn học 3 năm, từ năm 17 tuổi đến năm 20 tuổi.

Gia đình vị tướng hết sức giúp đỡ Trí Cao. Nùng Trí Cao vốn thông minh, vạm vỡ, khôi ngô, tuấn tú, được học kinh sử, mở mang trí tuệ, mở rộng tầm nhìn.

Ở Thăng Long Trí Cao thường đi lại nhà vị tướng ân nhân của mình và thường trò chuyện thân thiết với cô con gái xinh đẹp, nết na của Ông.

Dần dà, Trí cao đã làm rung động trái tim người con gái kinh đô. Trai tài, gái sắc yêu nhau say đắm, vị tướng đã đồng tình gửi con gái cho. Người con gái đó thường gọi là nàng Cầm, gia đình nàng gia giáo, nền nếp; người anh cả là một tướng quân nối nghiệp cha, có tài thao lược, dụng bình giỏi, một người nhân nghĩa có chí khí.

Trong chiến dịch đi theo anh vợ đánh giặc “Gió sóng” (tức là giặc theo gió, theo sóng trên biển vào cướp phá miền duyên hải phía nam năm 1043), Trí Cao học đuợc phép bầy binh bố trận và lấy uy, lấy đức thu phục nhân tâm.

Khi Trí Cao ở Thăng Long, mẹ là A Nùng ở quê hương Quảng Nguyên đã dạm hỏi cô Đoạn Hồng Ngọc đang tuổi dạy thì là hoa khôi xinh đẹp, con nhà gia thế ở làng bên thuộc động Xuân Phách (nay là Bản Ngần, xã Vĩnh Quang ), sau một năm làm lễ cưới chú rể vắng mặt. Trí Cao không yêu, chỉ coi Đoạn Hồng Ngọc như bạn quen biết gần làng, song mẹ chàng coi là con dâu chính.

Nàng Cầm theo chồng về quê Quảng Nguyên. Trong 10 năm ( 1043-1053), nàng sinh được hai con trai là Nùng Kế Tông và Nùng Kế Phong.

Nàng Cầm là sợi dây liên lạc nối kinh đô vua Lý với vùng đất biên cương xa xôi này. Nàng được chồng yêu thương đằm thắm. Song điều này làm cho nàng trở thành cái gai trước mặt mẹ chồng và cô vợ cả Đoạn Hồng Ngọc. 

Nỗi bất hòa xảy ra thường xuyên và lớn dần. Mẹ chồng hắt hủi, bắt con dâu chứng minh cái thai có đúng là cháu bà không? Bà thường chê bai cách nấu nướng không hợp khẩu vị, không vừa ý với cách cư xử, giao thiệp của nàng Cầm.

Vợ cả bị chồng lạnh nhạt sinh lòng ghen tuông, nên trong lúc cả giận mất khôn, đã nhẹ dạ chạy sang hàng ngũ địch. Quân Tống tràn sang Quảng Nguyên cướp phá, bắt giết nhân dân, trong đó có cả gia đình Đoạn Hồng Ngọc, Vương Lan Anh bị giết hết. 

Căm giận quân cướp nước “Hận thù nhà, trả thù nhà” Đoạn Hồng Ngọc, Vương Lan Anh lại quay về chống trả giặc Tống, trở thành nữ tướng của Trí Cao.

Đoạn Hồng Ngọc biết lỗi lầm nay cải tà quy chính, nên ngày nay tại miếu Linh Ấn tức Đền Kỳ Sầm thờ Kỳ Sầm đại vương Nùng Trí Cao ở Bản Ngần (xã Vĩnh Quang, huyện Hoà An), họ Đoạn ở Xuân Phách vẫn đến tế lễ, sau tuần tế của họ Nùng.

Chuyện tình Thái Bảo Nùng Trí Cao và nàng Cầm nói lên sự liên kết giữa nhà Lý với Nùng Trí Cao, nêu lên công lao Nùng Trí Cao đánh tan quân xâm lược nhà Tống bảo vệ bờ cõi phía bắc của Tổ quốc, mà dấu ấn còn ghi đậm nét trong tâm tư, tình cảm của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. 

Nhân dân Cao Bằng tự hào có vị Thái Bảo Nùng Trí Cao với chuyện tình đoàn kết giữa người miền xuôi, miền ngược.

Hầu GIÁ Ông Hoàng Bát

Ông Hoàng Bát Nùng ít khi về ngự đồng, trừ những người nặng căn của Hoàng hoặc căn lục bộ.

Khi về ngự đồng, Ông Hoàng Bát Nùng thường mặc y phục màu vàng hoặc thổ cẩm, khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi ghệt chân ghệt tay, mạng chéo, làm lễ tấu hương, khai quang, múa đôi trùy đồng (hoặc múa cờ, kiếm) và múa võ. Khi ngự đồng ông cũng hút tẩu và thuốc cuốn.

“Gương anh khí sáng ngời muôn thuở

 Chí hào hùng rạng rỡ non sông

Vinh quang thay dòng giống Lạc Hồng

Ngàn thu còn nhớ Hoàng Bát Nùng Trí Cao”

Chầu Văn Ông Hoàng Bát

Gương anh dũng ngàn xưa lưu để

Đất Cao Bằng tú khí chung linh

Trời nam có đức thánh linh

Họ Nùng đệ bát hùng anh tuyệt vời

Giận bạo chúa bao đời áp bức

Thù ngoại xâm Tống giặc cường hung

Thề rằng không độ trời chung

Tuốt gươm quét sạch thù trong giặc ngoài

Dù trăm trận mưa rơi sấm giật

Đôi trượng đồng dạy đất trời long

Bát Nùng nối nghiệp gia phong

Noi gương tiên tổ – họ Nùng – Trí Cao

Ông Bát Nùng ra vào sinh tử

Trượng tung bay tuyết phủ hoa khai

Sá gì đạn lạc tên rơi

Trên đời hồ dễ mấy ai anh hào.

Thân bách chiến ra vào sinh tử

Đôi thần trùy nhẹ tựa hồng mao

Trần hoàn nhẹ gánh gian lao

Cõi trời do sổ Thiên Tào có tên

Rước ông Bát về miền tiên giới

Đất Cao Bằng nhớ lại công ơn

Nhân dân thờ phụng khói hương

Nhớ người tráng sĩ hiên ngang anh hùng

Thưở niên thiếu kiếm cung yên ngựa

Sinh vì đời, thác trợ muôn dân

Oai linh lẫm liệt thánh thần

Một lòng vì nước vì dân vì đời

Gương anh khí sáng ngời muôn thuở

Trí hào hùng rạng rỡ non sông

Vinh quang thay giòng giống Lạc Hồng

Ngàn thu còn nhớ ông Bát Nùng Trí Cao

Thơ Lý Bạch anh hào ví sánh

Rượu Lưu Linh buồn tính vui say

Thừa nhàn bạch định thiên khai

Cờ thiên đế thích mộ tài tri âm

Kèn sáo trúc bổng trầm họ Lá

Lục huyền cầm Tử Bá nam xuân

Liên tâm ba chén tẩy trần

Thanh hương bình ngọc kỳ trân đượm mùi

Hồn quốc túy ấm lòng quân tử

Thú yên hà duyên nợ núi sông

Ngàn xưa tuyết nguyệt hoa phong

Thuốc lào Tiên Lãng ấm lòng thế gian

Khói thoảng ngát hương lan thú thảo

Thú phong lưu Vĩnh Bảo, Hải Đông

Sập vàng điếu ống thung dung

Ngự về trần thế đèn lồng kiệu hoa

Ai thành kính tại gia phụng sự

Thỉnh Ông về giá ngự đền trung

Xưa nay tắc tự hữu công

Dâng văn kính thỉnh Ông Bát Nùng Trí Cao.

Đền Thờ Ông Hoàng Bát

Thái Bảo Nùng Chí Cao là một biểu tượng dũng tướng của Việt nam và là niềm tự hào của người dân Cao Bằng. Sau khi ông mất, vua Lý đã sắc phong cho ông  là: 

Khâu Sầm Đại Vương

Đền thờ chính thờ ngài là Đền Kỳ Sầm gần thị xã Cao Bằng.

Ngoài ra: Đền Phja Đeng thuộc xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là di tích thờ hai Vua Đinh Tiên Hoàng và Vua Nùng Trí Cao, thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng với người Kinh.

Nhắc đến Ông Hoàng Bát Nùng, nhiều người thường bị nhầm lẫn với Ông Hoàng Bắc Quốc vì hai ông đều được gọi là Quan Hoàng Bát và đều là những vị tướng tài có thật trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, thực tế ông Hoàng Bắc Quốc lại là người đất Kinh Bắc và hoàn toàn không có liên hệ với ông Hoàng Bát Nùng.

Đền thờ của ông Hoàng Bắc Quốc cũng nằm tại Bắc Giang, cách xa đền ông Hoàng Bát Nùng tới hàng trăm cây số.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.