Ông Hoàng Mười

Ông Hoàng Mười là con Vua Cha Bát Hải Động Đình, đứng hàng thứ 10 trong Mười Ông Hoàng. Ngài là vị Thánh Hoàng hào hoa, phong nhã. Ông hay đi chấm & ngự đồng trong các buổi lễ, tiệc.

“Quan Hoàng Mười trấn thủ Nghệ An

Về huyện Thiên Bản làm quan Phủ Dầy”

Sự tích

Ông Hoàng Mười vốn là thiên quan trên Thiên Đình. Theo lệnh Vua Mẫu, Ông giáng trần để giúp dân phù đời. Khi Ông giáng trần có rất nhiều sự tích.

Tích thứ nhất: Ông Hoàng Mười giáng trần là tướng quân Lê Khôi

Ông hiện thân làm tướng Lê Khôi, một công thần khai quốc nhà Lê Sơ, cũng là tướng lĩnh trong cuộc chiến Lam Sơn lẫy lừng. Lê Khôi là cháu ruột của vua Lê Lợi, được vua giao chức trấn thủ Hóa Châu. Vừa hết lòng trấn thủ, giúp vùng an yên ấm no, ông còn luôn đem quân tiếp ứng cho vua dẹp loạn quân Bế Khắc Thiệu, quân Chiêm Thành,… và lập được nhiều công lao.

Năm 1430, Thái Tổ Lê Lợi sai Lê Khôi trấn giữ châu Thuận Hóa, vì người Man quấy phá.

Lê Khôi vào trấn giữ, dỡ bỏ trạm gác, dạy bảo dân trồng dâu cày ruộng, ngày đêm tập luyện quân sĩ, giữ vững bờ cõi biên cương, lấy nhân đức cai trị. Đánh nhiều trận, bắt nhiều giặc, nhưng ông đều đối đãi tử tế, tha cho về. Giặc Chiêm vừa sợ vừa mến đức ông. Cống sứ Chiêm ra Bắc, đều ghé thăm ông.

Năm 1448, Lê Nhân Tông lên ngôi Vua, vời ông ra làm Nhập nội thiếu úy, coi việc phủ Nghệ An.

Sử chép, khi Lê Khôi quay về trấn Nghệ An, nhân dân đứng đón ông chật hai bên đường. Chỉ vài năm chính sự được công bằng, kiện cáo được xét xử thỏa đáng, mùa màng tốt tươi, dân yên vật thịnh, tiếng ca tụng ân đức của Ông lan truyền từ thành thị đến làng xã ngõ vắng. Tính ông bình dị, gần dân nên được nhân dân cả vùng yêu mến tin tưởng.

Năm 1451, Lê Nhân Tông sai đô đốc Lê Khả đánh dẹp phương Nam, Lê Khôi đem quân bản bộ tiến trước. Khi đến đất địch, tướng giặc biết có quân Lê Khôi bè gọi sang hỏi: “Có phải Tư Mã đến đấy không?”. Ông bèn bỏ mũ trị ra cho giặc nhìn thấy mặt. Giặc đều xuống ngựa lạy xin hàng, nộp cống vật địa phương. Quân Lê Khôi đi đến đâu giặc tan đến đó. Ông đánh vào tận thành Đồ Bàn, bắt chúa Chiêm là Bí Cái, rồi mới thu quân về.

Trên đường về, Lê Khôi bị bệnh nặng và mất ở chân núi Long Ngâm, gần cửa biển Nam Giới, tức địa danh Hà Tĩnh, cách không xa Hưng Nguyên thuộc Nghệ An bây giờ. Quân sĩ thương xót, kêu khóc vang trời dậy đất, vua bỏ triều ba ngày, sai quan đến phúng điếu, tăng chức Nhập nội đô đốc. Nhân dân thương xót biết ơn lập đền thờ phụng. Gọi là Ông Hoàng Mười.

Tích thứ hai: Ông Hoàng Mười giáng trần là Nguyễn Xí

Ông xuất thân tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Ông là người có công xông pha chinh chiến giúp vua dẹp quân thù nhà Minh. Ông là bậc đại công thần, là võ tướng, chính trị gia lỗi lạc giúp Lê Lợi chiến đấu chống giặc Minh xâm lược, được vua trọng dụng, giao cho trấn giữ vùng đất quê nhà là Nghệ An, Hà Tĩnh.

Ông luôn hết lòng vì dân, lo cho dân. Ông đã từng mở kho cứu trợ tiếp tế, sai quân đốn gỗ làm nhà cho dân khi vùng gặp hoạn nạn thiên tai. Tích rằng, trong một lần gió lớn, mưa to, nhà cửa, cây cối của người dân bị bẻ sập, Nguyễn Xí đốc thúc quân lính và đích thân lên rừng đốn gỗ về dựng lại nhà cửa cho dân, sai người mở kho lương thực cứu tế kịp thời. Nhờ đó mà nhiều người đã thoát khỏi đói rét, chết chóc vì bão lũ... Vì vậy được dân chúng khắp nơi tôn sùng, coi như hiền thánh.

Ông còn là vị quan phò tá qua 4 đời vua Lê: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông.

Trong một lần đi thuyền trên sông, thuyền của ông bị nhấn chìm bởi một trận phong bão và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Lúc đưa tiễn ông, trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích điểu. Người ta nói là các thiên binh thiên tướng đang xuống để rước ông về trời.

Vua Lê Thánh Tông hết lòng thương tiếc vị tướng tài, liền truy tặng ông hàm Thái sư cường quốc công và sai lập đền thờ ở Thượng Xá.

Cảm kích trước tấm lòng đức độ của tướng Nguyễn Xí, người dân vùng này tôn ông làm Ông Mười (còn gọi là Ông Mười Củi).

Tích thứ ba: Ông Hoàng Mười giáng trần là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang

Một dị bản giải thích cho sự tích Ông Hoàng Mười ghi chép rằng, ông hóa thân làm Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Lý Nhật Quang là anh em cùng cha khác mẹ với vua Lý Thái Tông.

Từ nhỏ, Lý Nhật Quang nổi tiếng thông minh lỗi lạc, được vua cha dạy bảo nghiêm minh để trở thành rường cột nước nhà. Lớn lên, ông được cử vào châu Nghệ An lo việc thu thuế. Ông làm việc cần mẫn, thanh liêm, chính trực, được nhân dân tin tưởng và sau đó được phong chức tri châu Nghệ An. Nhờ có ông, cuộc sống ở Nghệ An đang hỗn loạn, phức tạp trở thành nơi có kỷ cương phép tắc, bách tính ổn định sinh sống.

Không những vậy, Lý Nhật Quang còn góp công không nhỏ trong việc xây dựng trại Bà Hòa. Nhờ có trại kiên cố vững chắc, vua và quân yên tâm chiến đấu và đã đánh chiếm được Chiêm Thành.

Được vua phong tước Vương, ông vẫn hết sức quan tâm đến cuộc sống người dân và sự phát triển kinh tế đất nước. Ông đã hướng dẫn nhân dân dệt lụa, dệt vải, làm nông,… và trở thành tổ sư của nhiều nghề thủ công nghiệp tại Nghệ An. Với con mắt của danh tướng có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, ông đã trấn an lòng dân, khai đất khẩn hoang, tạo dựng các tiềm năng thế mạnh để giữ gìn và phát triển bờ cõi đất nước.

Khi mất, ông được nhân dân hai vùng Nghệ An, Hà Tĩnh lập đền thờ phụng ở rất nhiều nơi để bày tỏ công ơn, ghi dấu sự tích đền ông Hoàng Mười.

Cả ba tích đều nói về 3 vị tướng tài của đất nước, hết lòng vì nước vì dân và trấn thủ vùng đất Nghệ An Hà Tĩnh.

Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười vừa bởi ông là người con thứ Mười của Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, đồng thời với ý nghĩa số “mười” mang sự vẹn đầy, viên mãn, giống như ông Mười là người văn võ song toàn, tài đức trọn vẹn, không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương.

Đền thờ

Mỏ Hạc Linh Từ

Đền lại được xây dựng trên vùng đất đắc địa nơi giao nhau giữa ba con sông (Sông Lam, Sông La và Sông Minh), được cả 3 dòng sông bồi đắp tạo nên thế đất hình con Hạc. Chính vì vậy, thường được nhân dân gọi là Đền Mỏ Hạc hay Mỏ Hạc Linh Từ, nghĩa là một vùng đất linh thiêng

Đền Chợ Củi

Xa xưa thờ Mẫu Liễu, sau đó thờ các vị tướng có công với vùng Nghệ Tĩnh.

Khi xưa đi lễ thường hay gọi là đền thờ ông hoàng Nghệ (Chữ Nghệ乂: Tài giỏi, cai trị được yên dân), sau này mới được biết đến là đền thờ Ông Hoàng Mười. Tương truyền, nơi đây cũng là nơi năm xưa kim thân ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Dinh Đô Quan Hoàng Mười (Đền Cả)

NGÀY TIỆC

Chính tiệc Ông Hoàng Mười là ngày 10/10 âm lịch.

Ngày tiệc bách gia đến lễ thường dân ông cờ quạt, bút sách để cầu tài cầu lộc, cầu công danh cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

CĂN Ông Hoàng Mười

Ông được coi là một trong hai vị quan Hoàng hay về ngự đồng nhất, do ông được Mẫu giao đi chấm lính bắt đồng.

Theo tâm linh, số mệnh mỗi người khi sinh ra đã được định sẵn. Người ta truyền tai rằng những người sát căn ông Hoàng Mười thường có những điểm chung rất giống nhau: Hào hoa phong nhã, văn võ song toàn đặc biệt là văn chương rất giỏi, đường công danh sáng láng, nhiều người đỗ đạt làm quan to.

Hầu GIÁ Ông Hoàng Mười

Khi ngự về đồng Ông Hoàng Mười ngự áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim.

Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng.

“Hèo hoa trẩy hội Tiên Hương 

Chấm đồng nhận lính khắp miền Đông Tây.”

Khi ông ngự vui, bách gia đệ tử dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá, cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

Ông ngự đồng ban tài, ban lộc, thưởng thơ, thưởng, trà, rượu.. Theo dân gian Ông Hoàng Mười là vị thánh thường ban lộc cho phát về công danh sự nghiệp, độ cho các con nhang đệ tử về khoẻ mạnh, học hành, công việc, công danh, bình an.

“Độ cho đắc lộc tài sai

Thọ khang phú quý trong ngoài hanh thông

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Thu Đông tiếp lộc, hạ xuân tiếp tài

Ai mà ăn nói đơn sai

Dù cho của cải cũng để ngoài bể đông

Thương ai chấm lính nhận đồng 

Tu nhân tích đức lên công vẹn thành”

chầu văn Ông Hoàng Mười

Bản I

Cành hồng thấp thoáng trăng thanh 

Nghệ An có đức thánh minh ra đời 

Gươm thiêng chống đất chỉ trời

Đánh Đông, dẹp Bắc việc ngoài binh nhung 

Thanh xuân một đấng anh hùng

Tài danh nổi tiếng khắp vùng Trời Nam 

Hai vai nặng gánh cương thường 

Sông Lam sóng cả, buồm dương một chèo

Dựng nền đức Thuấn nhân Nghiêu 

Sóng yên bể lặng sớm chiều thảnh thơi 

Khi Bích động lúc Bồng lai 

Non nhân, nước trí mọi nơi ra vào 

Cỏ hoa hớn hở đón chào 

Nhớ xưa Lưu Nguyễn lạc vào Thiên thai

 Trời Nam có đức Hoàng Mười 

Phong tư nhất mực tuyệt vời không hai

Nền chí dũng, bậc thiên tài

Văn thao, võ lược tư Trời thông minh

Tiêu dao di dưỡng tang tình

Thơ Tiên một túi, Phật Kinh trăm tờ

Khi Phong nguyệt, lúc bi từ

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng trong

Khi Thiếu lĩnh, lúc non Bồng

Cành cây mắc võng, lòng sông ngự thuyền

Người Thành thị, khách Lâm tuyền

Nam thanh nữ tú mình quyền bóng sang

Phong quang đẹp ý Đức Hoàng

Khác nào Thu cúc, Xuân lan tới tuần

Xiết bao bể ái, nguồn ân

Ban Tài, tiếp Lộc, thi nhân, thi từ

Cát đằng thuận gió xuân đưa

Xuôi lòng quân tử đề thơ hảo cầu

Năm ba Tiên nữ theo hầu

Trăm hoa cài tóc, nhiễu Tàu vắt vai

Phong hoa tuyết Nguyệt đượm mùi

Dâng câu thiên bảo chúc lời tăng long

Trần duyên chưa trút được lòng

Đường mây sớm trở xe hồng thượng Thiên

Nghe thường hội nghị quần Tiên

Nghe tin người đến thiên duyên chạnh lòng

Vân tiên mượn cánh chim hồng

Xin người soi tỏ tấc lòng cho chăng?

Cầu Ô đem bắc sông Ngân

Ngồi trong cung Quảng đêm Xuân mơ màng

Bóng trăng soi tỏ canh trường

Đã cam tấc dạ tuyết sương cùng người

Thủy tiên dìu dặt đón mời

Bấy lâu khao khát đầy vơi chạnh lòng

Vượt bể đào tới ngàn xanh

Đường Tiên cảnh cũ nặng tình nước non

Trúc xinh cô Quế cũng giòn

Phù dung yểu điệu, mẫu đơn não nùng

Ngày ngày lên núi ngóng trông

Đỏ hai khóe hạnh chờ mong Đức Hoàng

Nhớ xưa hẹn ngọc, thề vàng

Mừng nay tỏ mặt Đức Hoàng tới nơi

Lên núi rồi lại xuống đồi

Dưới trăng luống những đứng ngồi ngẩn ngơ

Vào rừng hái lá đề thơ

Cậy đôi cánh Nhạn tin đưa tới người

Cõi Trần mở tiệc mừng vui

Đông về nhớ Đức Hoàng Mười giáng sinh

Rượu đào kính chúc Thánh minh

Phong hoa, tuyết nguyệt phẩm bình mấy chương

Ngẫm câu Thế sự vô thường

Tấc son mượn nước cành dương tưới nhuần

Vắng người vắng cả mùa Xuân

Nhớ người vì Nước, vì Dân, vì Đời

Thế gian nhớ miệng Hoàng cười

Nhớ khăn Hoàng chít, nhớ lời Hoàng ban

Khi phố Cát, lúc đồi Ngang

Nón kinh vó ngựa, dăm ngàn tiêu dao

Đường đường cung kiếm anh hào

Túi thơ, bầu rượu sớm chiều xênh xang

Hèo hoa chảy hội Tiên hương

Chấm đồng nhận lính khắp miền Đông Tây

Khi nương gió, lúc cưỡi mây

Khi rung khánh ngọc, khi lay chuông vàng

Hoàng về gối xếp ai mang 

Hèo hoa ai vác ngựa vàng ai trông

Lệnh truyền cô Quế, cô Hồng

Hèo hoa, gối xếp, đèn lồng tay mang

Cô Lan, cô Huệ xếp hàng

Gióng yên, dắt ngựa lên đàng vân du

Thuyền Rồng thấp thoáng chèo đưa

Tinh kỳ nhã nhạc Hoàng về Nghệ An.

Bản II

Đất lề quê thói Nghệ An

Miếng trầu cau đậu dâng quan Hoàng Mười

Trông hoa lại nhớ đến Người

Đông về lại nhớ Hoàng Mười Nghệ An

Đất Nghệ An có anh hùng hào kiệt

Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa

Vung gươm lên ngựa đề cờ

Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam

Chí anh hùng ra tay giữ nước

Đi tới đâu giặc phải tan ngay

Việt Nam ghi chép sử này

Cung cao điện ngọc đêm ngày khói nhang

Khi hội nghị luận bàn việc nước

Hoàng mang tài thao lược hiến dâng

Lĩnh sắc rồng khiển tướng điều quân

Gươm thiêng ba thước, ngựa hồng xông pha

Đò từ Đông Ba đò qua Vĩ Dạ

Đò từ Đầm Đá tới Phú Vân Lâu

Non xanh nước biếc một màu

Một con đò nhỏ về thăm cảnh Nghệ An

Cũng có phen lên ngàn xuống bể

Trở ra về phủ tía lầu son

Cũng có phen ngắm ánh trăng tròn

Khi xem huê nở khi chờ trăng lên

Đường về xứ Nghệ nghĩa tình

Sông Lam núi Quyết địa linh bao đời

Tam Kỳ Mỏ Hạc là nơi

Đền thờ lăng mộ đời đời khói nhang

Nước sông Lam răng trong răng đục

Gạo chợ Chùa vừa trắng vừa trong

Ghế ông tình mặn nghĩa nồng

Điều lành điều dữ sá cùng trần gian

Muối ba năm muối kia còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Ghế ông đây tình nặng nghĩa dày

Xa xôi chăng mấy cũng về đây ngự đồng

Thuyền rồng còn đợi bến sông

Chở các thanh đồng đi hội Nghệ An

Cho dù cách trở sông Lam

Có cầu Bến Thuỷ bắc ngang đôi bờ

Dòng sông Lam bên lở bên bồi

Dấu thiêng Hoàng để muôn đời khói nhang

Đất Thiên Bản còn nhớ người trấn thủ

Đền Mẫu Phủ Dầy lồng lộng chữ công danh

Ông Mười trấn thủ trong thành

Mười ba năm lẻ còn nức danh tướng tài

Thành Huế ơi sông Hương răng núi Ngự

Cầu Tràng Tiền, Bến Thuỷ đẹp long lanh

Năm cửa ô về tới đô thành

Nam Đàn xứ Nghệ nức danh Hoàng Mười

Đường vô xứ Nghệ loanh quanh

Nơi Ông Mười ngự như tranh hoạ đồ

Ai vô xứ Nghệ thời vô

Qua cầu Bến Thuỷ tới kinh đô Hoàng Mười

Ngắm xem phong cảnh đất trời

Nghệ An mến khách mến người trọng ân

Cỏ cây chưa trút bụi trần

Đường về chẳng biết rằng gần hay xa

Xinh thay hỡi thú yên hà

Đào nguyên ướm hỏi ai là chủ nhân

Đường xa muôn dặm cũng gần

Giáng lâm giá vũ đằng vân ngự đồng

Chim khôn đã phải cẩm lồng

Cau non, thuốc lá chiều lòng (Hoàng) chơi

Vân du góc bể chân trời

Không đâu lịch sự bằng nơi đền này

Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây

Sông Lam hết nước ghế ông đây chưa hết lộc tài

Độ cho đắc lộc tài sai

Thọ khang phú quý trong ngoài hanh thông

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Thu Đông tiếp lộc, hạ xuân tiếp tài

Ai mà ăn nói đơn sai

Dù cho của cải cũng để ngoài bể đông

Thương ai chấm lính nhận đồng

Tu nhân tích đức lên công vẹn thành

Ai ơi nên ở cho lành

Kiếp này chưa trọn Hoàng để dành kiếp sau

Nào trời có phụ ai đâu

Sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm

Ai mà tích đức tu nhân

Đắp bồi cội phúc thêm phần đề đa

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

Ghế Hoàng bao nhiêu tuổi mà vẫn hào hoa như thuở nào

Đời người chỉ ngắn tấc gang

Gắng tu nhân tích đức, vẻ vang sau này

Như cây muốn tốt  xanh cành

Tưới lan lan tốt, vun hồng hồng xanh

Nhất tâm tu đức, Hoàng dành phần cho

Người ơi đừng ngại chớ lo

Cõi tu bể rộngkhéo dò đến nơi

Người ta sống ở trên đời

Tiền dòng bạc chảy để rồi làm chi

Cuối cùng cũng chẳng đem đi

Đem đi cũng chẳng làm gì cho ai

Cho nên có lộc có tài

Có phúc để hưởng lộc tài Hoàng ban

Kẻ nào dạ hiểm lòng gian

Đảo điên tráo trở xóa tan sạch lầu

Ai thủy chung đức độ trước sau

Mở đường hạnh phúc, bắc cầu vinh hoa

Hoàng cho rộng cửa cao nhà

Buôn may bán đắt lộc tài đề đa

Thương ai vất vả đoạn trường

Gian nan càng lắm, Hoàng thương càng nhiều

Chở che che chở mọi điều

Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai

Hoàng cho lộc ta cho tài

Chiều vơi tối cạn, sớm mai lại đầy

Nhắc ai nhớ lấy câu này:

Càng nhiều tâm đức, càng nhiều vinh hoa

Lòng trời lượng bể bao la

Đuốc thần luôn chiếu rạng khắp hải hà sơn khê

Đã thương vạn sự chẳng nề

Trăm điều chếch lệch cũng kê cho bằng

Trên trời vằng vặc ngôi sao

Trời nam chói lọi anh hào cổ xưa

Thương người dầu dãi nắng mưa

Thương người đi sớm về trưa nặng lòng

Chứng tâm chứng lộc cho đồng

Cho cầu nên ước được gia trung thuận hoà

Các cô quạt nước pha trà

Quần tiên múa hát xướng ca hoạ vần

Cô dâng lên chiếc quạt trầm

Nghiên vàng bút ngọc ân cần khoan thai

Đầu lược giắt, chân giậm văn hài

Cô cả dâng điếu ngự, cô nàng hai theo hầu

Cô ba gối xếp theo sau

Đất lề quê thói cô tư têm trầu Hoàng xơi

Cô năm dâng giá gương soi

Còn cô nàng sáu rượu mời dâng ông

Cô bảy dâng đoá huê hồng

Còn cô nàng tám kiệu rồng rước lên

Cô Chín múa lượn xênh tiền

Thướt tha yểu điệu khách tiên mơ màng

Cô Mười thỏ thẻ oanh vàng

Tiếng tiêu cô thổi khiến lòng Hoàng nâng nâng

Cô mười một thơ hoạ đôi vần

Dâng ông quý vật kì tân đủ mùi

Cô mười hai sắc nước hương trời

Mười hai cô tiên nữ

phò giá Ông Mười lai kinh.

Bản III

Ông Hoàng Mười trấn thủ đất Nghệ An

Về Thiên Bản làm quan đất Phủ Dầy

Sông Lam Hồng lĩnh đẹp như tranh

Tạo hóa xưa kia đã lập thành

Muôn thủa núi sông bền vững mãi

Nam đàn xứ Nghệ mãi còn danh

Nghe tiếng chuông vang

Con thấy ông quan Hoàng loan giá nơi Tây hồ

Mặc áo vàng gấm thêu hoàng hoa

Tay tiên viết câu thơ thần

Quạt ngà gió bay gần xa

Ngày ngày bên lầu

Hai nàng tiên nữ thướt tha yêu kiều

Dàn dâng lên khúc Nam thương

Giọng ngân líu lô oanh vàng

Để lòng Hoàng xiết bao niềm vui

Khi xa chúng nhân xa rồi

Mà lòng còn luyến lưu đầy vơi

Tiệc vui hôm nay vui quá đi thôi

Hát ca tưng bừng ngự vui

Để tiên cảnh đèn hoa tươi

Mây trên trời cũng ngừng trôi

Đón quan Hoàng ngự vui

Tiệc vui Ông về bút phê sớ hồng

Độ cho ghế họ...trong nhà tốt tươi màu hồng

Đệ tử hôm nay cầu mong tôn kính

bái Phật tuyên kinh

Mà lầm lỡ điều chi con xin ông

hóa phép thần thông

Chứng giám cho họ...

Người trần gian ai mà nặng căn cao số

Cúi xin ông Mười ông ban tài tiếp lộc đề đa

Xưa ngoại bang xâm lấn giang sơn cõi bờ

Vâng lệnh Vua cha,

Hoàng lĩnh ấn phong kiếm cờ

Xua loài xâm lăng phút tan không ngờ

Khải hoàn ca hạc sa theo gió mây bóng về tiên

Trời Nam sáng khí linh thiêng

Nước non này mãi mãi được bình yên

Cõi Bồng lai,

chợt nghe tấu đối ghế ông tâm thành

Vâng lệnh Vua cha,

Hoàng xuống nơi dương trần

Vâng lệnh Mẫu vương,

Hoàng giáng lên ngự đồng

Hoàng về đây

Ngàn hoa thơm ngát, hương khói quyện bay

Rằng ngày hôm nay khánh lắc chuông lay

Khoác áo hoàng bào nhẫn ngọc lồng tay

Đường về Nghệ An, ngàn mây xanh thắm

Nắng sớm long lanh, núi Hồng soi bóng dòng Lam

Tiếng chim ca hòa trong gió, gió bay rộn ràng

Về Nghệ an thấy lòng xốn xang

Nghe danh thơm quan Hoàng ban

Xin cúi đầu thắp một tuần nhang

Cầu xin quan Hoàng ban cho phước lớn

Bán đắt buôn may,

xuôi ngược nẻo đông đường tây

Bước chân đi Quan Hoàng đưa lối dắt tay chỉ đường

Đời gian nan khó nhọc hoang mang

Ai nhất tâm quan Hoàng ban

Nương bóng Hoàng sẽ được bình an

Từ Nghệ an quan Hoàng giáng lâm nơi này

Dù đường xa cách trở

 đâu ngại gió sương đêm ngày

Hoàng ngự về đây, đồng sang bóng quý

Quan Hoàng ngất ngây

Sau trước gần xa,

xem ai hữu duyên Hoàng thương

Ông thương cho họ... 

thập niên bình yên mãi mãi

Tiếng ca cung đàn đón Hoàng vui ngự về đền đây

Cúi xin ông ban phước cho thanh đồng

Cho tiếng ca cung đàn

Cho người trần thế chúng con bình an

Bốn phương nước non thanh bình

Đời đời cháu con hiển vinh

Đời người

Ai mà có lần may mắn

ngắm dung nhan Hoàng

Ngự đồng ảnh bóng xuống dương gian

Mới hay trong tiệc Đạo lành

Ngự đầu đồng có ai đẹp bằng quan

Khi ông giá lâm thượng đồng

Đẹp rạng ngời sáng lên hào quang

Người ta nam bắc đông tây

Bán buôn trăm nghề đều gặp may

Còn chúng con cứ miệt mài mê say

Dâng cung đàn tiếng ca

xin quan Hoàng chứng tâm

Trầm hương bay ngát thơm trong đền

Hương lòng chân quý

Nguyện dâng lên Đức Thánh ông Hoàng Mười

Đàn tràng hôm nay

 con nguyện xin Thánh tôn ngự về

Tỏ lòng nhân thứ kính xin Hoàng Mười độ cho

Các ghế giầu sang vẻ vang

Khúc văn ca để tấu dâng Hoàng…

 Hội rồng mây…quần tiên ca vũ

Gió ngát , hương bay…

tấu nguyện Thánh tôn về đây

Chiếc long xa , ông Mười cưỡi gió rẽ mây vội vàng

Ngự từ trung chính điện vẻ vang

Ai có tâm Thánh Hoàng thương

Phúc ân Hoàng chiếu ban sáng tỏ thọ khang

Dâng khúc ca thành tâm

Dâng kính tôn ông Mười

Hương khói bay ngập trời

Ngạt ngào khói thơm mọi nơi

Ước mong Thánh ân gia hộ

Hộ trì ghế ông bình an

Văn đàn tâm thành chuyên nhất

Đắm say cung bậc…

tâm thành cung kính nguyện đâng

Kính xin Thánh ân gia hộ

Độ muôn nhà phúc duyên tụ lai

Ghế ông nhất tâm tiệc bầy

Đàn tràng sắt son tình thâm

Ngàn muôn câu hát dâng lên

Kính xin Đức Hoàng ngự thương

Chúng con nguyện muôn đời tựa nương

Kính xin Hoàng, Ông gia hộ độ thương...

Mừng quan Hoàng, là mừng quan Hoàng

Vui ngự trần gian

Ngàn hoa nở đua sắc phô nhan

Hương bay ngào ngạt

Người quân tử vâng lệnh sai giá ngự trần gian

Ban lộc tài cho đấng vô thường

Thuyền ai ngự, mà thuyền ai ngự

Sóng nước mênh mang,

Có phải Cô Bơ nàng, khoan hò khoan

Đang đẩy nhịp chèo rước ông Mười lên

Quan Hoàng Mười lên

khắp nơi nhã nhạc lừng vang.

Quan Hoàng loan giá

Khắp nhân gian chúng con mừng vui

Đền đây đẹp, là đền đây đẹp

Trang nhã phong quang...

Lối huế

Ông Hoàng Mười trấn thủ Nghệ An

Về huyện Thiên Bản làm quan Phủ Dầy

Hát cờn Huế:

Vô chùa niệm Phật Quan Âm

Phật ban Bốn chữ “Minh, Tâm, Thiện, Tài”

Trong thời học phép Như Lai

Đêm đêm ôn luyện văn bài, sử kinh

Tiêu dao di dưỡng tang tình Thơ Tiên

Một túi sách Phật kinh trăm tờ

Lúc thanh nhàn hoạ phú ngâm thơ

Khi phong nguyệt lúc bi từ

Sớm xem hoa nở, rồi chờ trăng lên

Khi tiêu lĩnh lúc lại non bồng

Cành cây mắc võng dòng sông ngự thuyền

Thăng long kén khách lâm thuyền

Nam thanh nữ tú mình quyền bóng ông

Phong quang đẹp ý ông Hoàng

Khác nào thu cúc, xuân loan tứ tuần.

Văn Đề Thơ

Bản I:

Đêm thanh ngoạn cảnh vườn đào

 Bút tiên nghiên ngọc đề thơ tiên

 Bút phát linh linh bút sa tà tinh

Ông Mười đi thất bộ, đề bài thơ Lý Đỗ

Độ cho trăm họ an lành

Ông cầm bút, họa vần thơ tiên 

Họa ra bốn chữ “Khang, Ninh, Thọ, Trường.

Bản II:

Bút pháp tửu nhập thần 

Hoa khai quả kết vạn cảnh xuân

Tay Tiên bình bút an trăm họ

Thiên hạ âu ca hưởng thái bình

Mới hay là thú hữu tình

Gió trăng bầu bạn rượu bình tri ân

Trông lên đỉnh giáp non thần

Cảnh Tiên như giục bước chân lên ngàn

Thung dung giữa chốn thạch bàn

Tai nghe tiếng hát tiếng đàn thông reo

Nhìn lên đỉnh núi chân đèo

Suối trong nước chảy trúc reo quanh đồi

Hương thơm thoang thoảng gọi mời

Bồng lai tiên cảnh giữa nơi phàm trần.

Thơ Chuốc Rượu

Rượu đào xin ông Mười nhấp chén cho say 

Trăm hoa giao kết mừng ngày tiệc vui

Tính tình tay tiên rót chén rượu đào

Dâng nhất tuần sớ,

Dâng lên cung Mẫu, dâng lên bệ ngọc

Các cô dâng mời là mời rước ông Mười xơi

Dâng nhị tuần á, tính tình tay tiên

Rót chén rượu đào

Dâng lên cung mẫu, dâng lên bệ ngọc

Các cô dâng mời là mời rước ông Mười xơi

Tam bôi, rót chén rượu đào 

Dâng lên cung Mẫu dâng lên Bệ Ngọc 

Các cô dâng mời là mời rước ông Mười xơi.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.