Ông Hoàng Bơ

“Trên Thượng Thiên mây bay năm vẻ 

Dưới Thủy Tề nước rẽ làm đôi

Ông Bơ lịch sự tốt tươi

Biến trên mặt nước cưỡi đôi chép vàng”

Sự tích

Tương truyền Ông Hoàng Bơ hay Ông Bơ Thoải là con vua Cha Bát Hải Động Đình, đứng hàng thứ ba trong Mười Ông Hoàng, ngự cõi Thuỷ Phủ

Khi rảnh rỗi, ông thường rong chơi khắp chốn trên thuyền rồng. Nhân thấy cảnh dân chúng còn nghèo khổ lầm than, ông đã nhận lệnh Vua Cha khâm sai cõi phàm trần, mở hội Phúc Duyên, giáng phúc cho dân buôn bán làm ăn thuận buồm xuôi gió, người có học đỗ đạt thành tài, xã hội bình an yên ấm.

Ông Hoàng Bơ tích xưa hiển linh vùng sông Biển và kèm vào đó là sự đàm đạo với các nho sinh sỹ tử. Theo các cụ đồng cổ kể lại, Ngài chủ yếu hiển linh theo chân Việt tộc âm phù hộ quốc xưa nên nơi có các đền Thoải đều phối thờ ngài.

Đền Cần Hải trước thờ Thủy thần là Ông Hoàng Bơ (thờ chính). Sau này giặc dã đền bị phá và ông Hoàng Chín (con vua Hùng) về đây đóng quân trấn giữ cho xây lại. Sau khi Ông Chín tạ thế thì được nhân dân trong vùng tôn thờ trong đền.

Đến thời Nam Tống, có vị thái tử con vua nước này,  tên Triệu Bính (Tống Khắc Bính). Sau khi bị nhà Bắc Tống đánh bại và thái tử Triệu Bính thác, lính của Ngài đã dong thuyền ra biển Đông và định cư tại Cờn (Cần Hải), Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Dân quân ở đó đồng ý cho ngụ lại, Binh lính cùng dân chúng bản địa dựng lại ngôi đền Cờn và phối hương linh vị Thái tử nhà Tống vào thờ tại đền thờ cùng ông Hoàng Bơ, ông Hoàng Chín. Đồng thời dựng cả đền Tứ Vị Vua Bà (thờ 3 mẹ con Mẫu ở Lạch Cờn và Hoàng thái tử Tống Đế Bính) ở trên núi, trên nền đền cũ của Ông Bơ tại Cửa Cờn. (Tứ Vị Vua Bà bao gồm cả Thái Tử Triệu Bính cũng được nhân dân thờ ở nhiều nơi từ thời Trần đến nay).

Sau này tam sao thất bản nhiều người đánh đồng vị Thái Tử này với ông Hoàng Bơ (tuy nhiên điển tích này cần được xem xét).

Đền thờ

  • Đền Cờn thờ Ông Hoàng Bơ (hiện nay đang có nhiều mâu thuẫn vì đã bị đổi sang thờ chính ông Hoàng Chín).
  • Quần thể di tích Phong Mục gần đền cô Đôi và đền cô Tám Đồi Chè, bên kia sông là Đền Hàn Sơn (Phong Mục, Thanh Hoá).
  • Đền Vạn Ngang (Đồ Sơn, Hải Phòng) nơi tương truyền có sự hiển linh của Ngài, khuông phù cho nho sinh thi cử đỗ đạt.
  • Ngoài ra Ông Hoàng Bơ được phối thờ trong hầu hết các đền. Trong cung Tứ phủ Thánh Hoàng, Quan Hoàng Bơ thường phối thờ với Quan Hoàng Bảy và Quan Hoàng Mười. Một số đền có cung thờ Ông Hoàng Bơ riêng.

Ngày tiệc

Tiệc chính ông Hoàng Bơ nhằm ngày 26/6 hàng năm.

Riêng lễ hội tại Đền Vạn Ngang – Đồ Sơn – Hải Phòng là 3 ngày từ ngày 6 -8/3 (Xuất phát bởi tích Ngài hiển linh đàm đạo với nho sinh sỹ tử tại đây vào 7/3 âm lịch).

Hầu Ông Hoàng Bơ

Là một trong những vị khâm sai nhận lệnh Vua Mẫu đi bắt lính nhận đồng. Khi ngự đồng, Ngài ngự áo trắng có thêu hình rồng uốn lượn thành chữ Thọ, thắt đai vàng, đầu đội khăn xếp thắt lét trắng, cài kim lệch trắng màu bạc. 

 Ngài ngự về tấu hương, khai quang rồi một tay cầm mái chèo, một tay cầm quạt thong thả dạo chơi. Cũng có khi Ông cầm đôi hèo, thể hiện hình ảnh đang cưỡi ngựa ngao du sơn thủy.

Sau khi làm lễ khai quang, Ngài ngự tọa, hiến tửu, nghe thơ và ban phát tài lộc cho bách gia.

chầu văn Ông Hoàng Bơ

Bản I

Trên điện ngọc rồng bay năm sắc

Dưới Động Đình ghềnh thác nguy nga

 Mênh mông một dải giang hà

 Ầm ầm sóng vỗ xa xa bạc đầu

Loài thuỷ tộc đâu đâu tìm đến

 Vượt vũ môn xuất hiện thần long

 Biến lên mặt nước lạ lùng

 Hoàng Bơ Thoải chân dung khác thường

Ông Bơ Thoải đường đường dong mạo

 Mặt nhường gương tiết tháo oai phong

 Thanh xuân một đấng anh hùng

 Toàn tài văn võ lầu thông mọi đường

 Sáng tựa gương trần ai chẳng bụi

 Bầu rượu tiên thơ túi xênh xang

 Khăn thêu áo trắng đai vàng

 Võ hài chân dận vai mang đôi hèo

 Cưỡi ngựa bạch vai đeo cung tiễn

 Tay kiếm trường trước điện bước ra

 Thương dân trên cõi Sa Bà

 Lòng tham chìm đắm đức hoà khó lên

 Trước bệ ngọc Hoàng liền tấu đối

 Lên cõi trần mở hội phúc duyên

 Khâm sai Hoàng kíp băng miền

Phong lôi một trận nổi lên cõi phàm

 Bạn tiên nữ xếp hàng rong ruổi

 Cá kình nghê thẳng lối tiễn đưa

 Sai quân dưỡng trực lên bờ

 Trống dong cờ mở thực là nghiêm trang

 Sắp hai hàng càng vàng tán tía

 Kiệu vàng son nghi vệ bát âm

 Tuần vương nghỉ gót dừng chân

 Hoạ thơ Lý Đỗ ca ngâm đọ cờ

 Tiệc xong lại chèo đua bẻ lái

 Truyền chèo về Bát Hải dong chơi

 Quỳnh Côi,Phượng Dực mấy nơi

 Sông Thao,sông Cả qua chơi Lục Đầu

 Chơi khắp hết sông Cầu sông Mã

 Truyền ba quân các ngả thi đua

 Lên rừng lấy gỗ chò hoa

 Đem về dâng tiến vua cha Động Đình

Ngự Bắc kinh,Thăng Long quý địa

 Phủ Tây Hồ tú khí danh lam

 Dừng thuyền bái yết Mẫu Vương

 Mẫu ban chấp chính cầm quyền vào ra

 Cho coi sóc các toà cung nội

 Riêng một bầu phượng ruổi loan ca

 Đông Cuông, Tuần Quán các tòa

Cây cao bóng mát rườm rà tốt tươi

 Đàn cá lội rõ mười không khác

 Kết thành lầu dàn dặt đêm thanh

Trăng soi đáy nước thuỷ đình

 Có thoi Hoàng thoải xinh xinh khác thường

 Thoi sáng ánh kim cương lấp lánh

 Biết bao người mến cảnh say sưa

 Trách ai vô ý không ngờ

 Qua không bái yết thực là khó van

 Ai biết phép gia ban tài lộc

 Độ cho người văn học thông minh

 Hoàng về trắc giáng điện đình

Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.

Văn Chèo Đò  Bản I

Trên điện ngọc rồng bay năm sắc

Dưới Động Đình ghềnh thác nguy nga

Mênh mông một dải giang hà

Ầm ầm sóng vỗ xa xa bạc đầu

Loài thuỷ tộc đâu đâu tìm đến

Vượt vũ môn xuất hiện thần long

Biến lên mặt nước lạ lùng

Hoàng Bơ Thoải chân dung khác thường

Ông Bơ Thoải đường đường dong mạo

Mặt nhường gương tiết tháo oai phong

Thanh xuân một đấng anh hùng

Toàn tài văn võ lầu thông mọi đường

Sáng tựa gương trần ai chẳng bụi

Bầu rượu tiên thơ túi xênh xang

Khăn thêu áo trắng đai vàng

Võ hài chân dận vai mang đôi hèo

Cưỡi ngựa bạch vai đeo cung tiễn

Tay kiếm trường trước điện bước ra

Thương dân trên cõi Sa Bà

Lòng tham chìm đắm đức hoà khó lên

Trước bệ ngọc Hoàng liền tấu đối

Lên cõi trần mở hội phúc duyên

Khâm sai Hoàng kíp băng miền

Phong lôi một trận nổi lên cõi phàm

Bạn tiên nữ xếp hàng rong ruổi

Cá kình nghê thẳng lối tiễn đưa

Sai quân dưỡng trực lên bờ

Trống dong cờ mở thực là nghiêm trang

Sắp hai hàng càng vàng tán tía

Kiệu vàng son nghi vệ bát âm

Tuần vương nghỉ gót dừng chân

Hoạ thơ Lý Đỗ ca ngâm đọ cờ

Tiệc xong lại chèo đua bẻ lái

Truyền chèo về Bát Hải dong chơi

Quỳnh Côi,Phượng Dực mấy nơi

Sông Thao,sông Cả qua chơi Lục Đầu

Chơi khắp hết sông Cầu sông Mã

Truyền ba quân các ngả thi đua

Lên rừng lấy gỗ chò hoa

Đem về dâng tiến vua cha Động Đình

Ngự Bắc kinh,Thăng Long quý địa

Phủ Tây Hồ tú khí danh lam

Dừng thuyền bái yết Mẫu Vương

Mẫu ban chấp chính cầm quyền vào ra

Cho coi sóc các toà cung nội

Riêng một bầu phượng ruổi loan ca

Đông Cuông, Tuần Quán các tòa

Cây cao bóng mát rườm rà tốt tươi

Đàn cá lội rõ mười không khác

Kết thành lầu dàn dặt đêm thanh

Trăng soi đáy nước thuỷ đình

Có thoi Hoàng thoải xinh xinh khác thường

Thoi sáng ánh kim cương lấp lánh

Biết bao người mến cảnh say sưa

Trách ai vô ý không ngờ

Qua không bái yết thực là khó van

Ai biết phép gia ban tài lộc

Độ cho người văn học thông minh

Hoàng về trắc giáng điện đình

Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.

Văn Chèo Đò  Bản I

Vỉa:

 Thuyền lan rước Mẫu qua sông

Độ cho trăm họ thoát vòng gian nan

 Chèo đò:

Nổi tiếng hò khoan

Chèo đua bẻ lái

Quan Hoàng rước Vua

Rước Mẫu tuần hành

Long, xà, ngư, miết

Cá kình theo sau

Tam giang, tứ hải

Tứ hải, cửu châu

Lý ngư vọng nguyệt

Đưa nhau tìm về

Lệnh truyền dâng nước

Dâng nước tức thì

Lên rừng tiến gỗ

đem về tiến Vua

Lấy gỗ xoan đào

Cùng gỗ trò hoa

Tiến Đức Vua cha

Vua cha Động Đình

Nổi hiệu lôi oanh

Vượt cửa Vũ môn

Qua ba vực sóng

Hiện hình Bạch Long

Chèo về đền đây

Tới bến đã rồi

Gác mái chèo bơi

Rước Ông lên đền.

Tác giả: Phúc Yên

Thơ Phú Bản I

Lau lách xạc xào, gió hiu hiu thổi
Nửa một khoang đầy, sưởi ấm hồn thơ
Tay nâng bầu rượu ngồi tựa mạn đò
Bút tiên nghiên ngọc hồn thơ lai láng
Thơ hỏi cung Hằng,  lúc mờ lúc sáng
Trăng nhớ thương ai khi khuyết khi đầy
Hay còn vương vấn chi đây
Rượu tiên chưa cạn chia tay sao đành
Khoan nhặt mái chèo, cảnh đền bỗng tới
Trăng in hồ nước, soi mái tam quan
Tiếng mõ vang vang, rũ sạch lòng phàm
Trăng treo đầu núi, vào chùa niệm phật
Nam mô A di đà phật
Như lắng tai nghe, chuông chùa thức tỉnh
Hoàng vẫy tay gọi, các thanh đồng ơi
Bản đền đây, Hoàng đã tới nơi rồi
Lúc trở ra về, sao thưa trăng khuất
Vì mến thương hoàng, trăng ẩn nấp bên non
Thoi Ông đi trở ánh trăng tròn
Lúc về trăng lặn chỉ còn bầu rượu túi thơ
Tay nâng bầu rượu, cạn tự bao giờ
Mỉm cười hoàng hẹn, mai chờ trăng lên.

Thơ Phú Bản II

Động Đình tây hồ thu nguyệt huy

Tiêu Tương giang bắc táo hồng phi

Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ

Bất tri sương lộ nhập thu y

 Mực in vách phấn đề thơ

Hồ Tây sóng nước bây giờ là đây

Gió trăng chở một thuyền đầy

Của kho vô tận, biết ngày nào vơi.

Phú nói:

Thuyền nan nhè nhẹ một con chèo

Thuyền Hoàng Bơ Thoải dạo Hồ Tây

Sóng dập dờn sắc nước trời mây

Bát ngát nhẽ ghẹo người du lãm

Yên thuỷ mang mang vô hạn cảm

Ngư long tịch tịch thục đồng tâm

Rượu lưng bầu mong mỏi bạn tri âm

Xuân vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa

Gió hây hây không nức mùi nhang xạ

Nhác trông lên vách phấn đã đề bài

Thơ ai, xin họa một vài.

 Hát nói:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu

Người xuống ngựa khách dừng

Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti

Say những luống ngại chi chia rẽ

Nước mênh mang đượm vẻ gương trong

Đàn ai nghe vẳng bên sông

Chủ quên trở lại khách không vội về

Lần tìm sẽ hỏi ai đàn tá

Dừng dây tơ nấn ná làm thinh

Dời thuyền ghé lại bên ghềnh

Khêu đèn thêm rượu còn dành tiệc vui

Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ

Tay ôm đàn che nử mặt hoa

Vặn đàn mấy tiếng dạo qua

Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay

Nghe não nuột mấy dây buồn bực

Dường than niềm tấm tức bấy lâu

Mày chau tay gảy khúc sầu

Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt

Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu

Dây to dường đổ mưa rào

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

Tiếng cao thấp lựa chen lần gây

Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu

Trong hoa oanh ríu rít nhau

Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh

Nước suối lạnh dây mành ngừng đứt

Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ

Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ

Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước

Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao

Cung đàn trọn khúc thanh tao

Tiếng buông xé lụa lụa vào bốn dây

Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt

Một vầng trăng trong vắt lòng sông

Ngậm ngùi đàn bát xếp xong

Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời

Rằng xưa vốn là người kẻ chợ

Cồn Hà Mộ trước ở lân la

Học đàn từ thuở mười ba

Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên

Gã thiện tài so phen từng khúc

Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô

Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua

Biết bao thê thảm chuốc mua tiếng đàn

Vành lược bạc gãy tan dịp gõ

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi

Năm năm lần lữa vui cười

Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Cuốc kêu sầu vượn hót véo von

Hoa xuân nở nguyệt thu tròn

Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng

Há chẳng có ca rừng địch nội

Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe

Tỳ bà nghe dạo canh khuya

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai

Chọt tỉnh giấc gót hài xa lắc

Hội long vân dìu dặt còn đâu

Màn đem buông xuống một màu

Mơ mơ tỉnh tỉnh thấy đâu mơ màng.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.