Chầu Văn Thánh Mẫu Thiên Y A Na

Chầu Văn Mẫu Thiên Y A Na (Bản I)

Chiêm Thành đất cũ Nha Quận quê xưa
Vâng lệnh trời giáng hạ chốn vườn dưa
Công dưỡng dục sớm hôm ơn Triều Phụ
Tài diện mạo dung nghi tuấn tú
Nết Công dung ngôn hạnh đoan trang
Hỡi Kỳ Nam nức tiếng Thiên Hương
Gia điểm ngọc xứng trang quốc sắc
Buổi thiếu thời sang chơi cõi Bắc
Gặp Đông Cung Hán Thất vầy duyên
Đạo tam tùng gìn giữ vẹn tuyền
Danh trinh liệt chép biên thành sử
Từ Hán địa lưu về Cựu xứ
Chỉ dốc nguyền phụng sự song thân
Sau mấy thu phủi sạch nợ trần
Bèn cởi phụng đằng vân biến hóa
Vừa gặp lúc lê dân có họa
Lòng thương dân Giáng hạ Mẫu cứu dân
Dấu anh linh di tích núi Quan Sơn
Tài biến hóa lưu truyền Đền Cổ Tháp
Dân trăm họ hoàn ân báo đáp
Khói minh hương nghi ngút Trời Nam
Sắc thù công quốc tự Điện Huệ Nam
Bào Cửu Phụng ấn ban tỏ rõ
Trừ kẻ tà ma phò Đạo Thánh
Giúp nạn nước cứu độ dân an
Thiệt rõ ràng tình hiếu là hơn
Trinh liệt Đức gồm lo đủ cả
Gây nên bậc Thần bậc Thánh
Từ Bi Hỷ Xả Mẫu độ chúng sanh
Con kính dâng Đại Thánh Mẫu Thiên Y
Trăm lạy Mẹ Từ Bi Giáng Phước.

Chầu Văn Mẫu Thiên Y A Na (Bản II)

Ba cung quế phất phơ bóng nguyệt
Chén Yên Hà chi xiết mừng vui
Tầng trên Minh Cảnh cao đài
Lòng chầu trong suốt thấu soi nhơn hoà
Gốc Nha Trang Kỳ Nam một cội
Tiếng thơm đầy Nam Hải Yến Kinh
Vốn xưa Mẫu ở Thiên Đình
Đại Am núi Chúa giáng sanh cõi này
Kể từ thuở non mây trăng rạng
Dưới vườn dưa thấp thoáng bóng Tiên
Triều Ông phu phụ nhơn hiền
Xui nên gặp đặng Chúa Tiên về nhà
Ơn dưỡng dục lòng đà yêu dấu
Nghĩa minh linh nương nấu làm thân
Chạnh niềm nhớ cảnh tam thân
Nhớ xưa Mẹ lại tưởng chừng non Tiên
Ba Mươi Sáu Động Tiên Phước Địa
Cảnh Bồng Lai gác tía lầu son
Mấy lầu đảnh giáp chon von
Đèn trăng khuya sớm nỉ non vui cười
Vẻ xuân tươi hoa cười ngọc thốt
Trên Thiên Đình có một không hai
Tóc mây mái phụng trâm gài
Thanh tao cách điệu xấp mười thuyền quyên
Khi Mẹ dạo sang miên Yến Dự
Dưới trăng vầy đoàn Tiên nữ vui chơi
Có khi mang lãnh đến nơi
Ngành cao bóng mát thảnh thơi thích tình
Kiếp ba sinh duyên lành còn đợi
Mượn gỗ Kỳ mà gởi mình hương
Trôi về bể Bắc đại dương
Yên kinh chốn ấy chưa tường báu linh
Chiếc Tiên sa linh đinh mặt nước
Chúng thổ dân theo vớt đua bơi
Nặng như sắt đá chẳng rời
Trăm ngàn quân cũng giữa vời bó tay
Tiếng đồn bay đến tai Thái Tử
Dạo Long Thuyền xem thử dường nào
Dang tay vin đỡ gỗ vào
Gỗ Hương nhẹ lướt sóng dào lần theo
Rước về đền kính yêu dấu để
Bữa bữa thường ngắm ghé thở than
Gỗ Trầm Hương thơm ngát Ngai Vàng
Trong cây Hương ánh nguyệt quang rạng ngời
Khi vắng vẻ đến nơi ngoạn thưởng
Có bóng người thấp thoáng vào ra
Khác nào Nguyệt Điện Tiên Nga
Xa xem thoáng thấy gần mà lại không
Chớp mắt trông ly kỳ khốn liệu
Phải lựa khi tìm nẻo đón ngăn
Mãn kỳ đợi gió trông trăng
Phút đâu đã thấy chị Hằng xuống đây
Vội vàng mới bắt tay han hỏi
Đã ngỡ ngàng khó nổi lánh đâu
Chúa bèn tỏ nổi tiêu dao
Vì duyên luống chịu ba đào bấy lâu
Người gặp gỡ xiết bao mừng sợ
Biết là duyên là nợ mà hay
Quẻ xem lục hạp tốt hay
Tâu lên Thánh Chúa định ngày kết duyên
Trải mấy xuân duyên hài cầm sắt
Vận cung thương dìu dắt tiếng tơ
Những từ cá nước duyên ưa
Ứng điềm chương ngọa bây giờ sổ sanh
Đã quên lời Sơn Minh Hải Thệ
Một chữ đồng ghi để vào xương
Lạ chi Tiên vốn khác thường
Gởi xong duyên phận lánh đường phiền bàn
Riêng ưa thú sơn hà cảnh trí
Chẳng vui về cửa lợi đường danh
Bên cảnh bên tình nặng hai bên
Lửa hương tơ tóc đã đành chia phôi
Sẵn cây gỗ Hương Trời dành để
Hóa Thần Long phút rẽ bay cao
Đem hai Tiên nữ ẩm vào
Bè Hương một chiếc sóng xao nghìn trùng
Trải qua mấy Non Bồng Nước Nhược
Những nước non non nước từng quen
Gỗ Hương phó giữa dòng quyên
Bãi cua hoang đẻ đến miền quê xưa
Gót sen dạo vườn dưa lối cũ
Nước non mừng hoa cỏ xanh tươi
Mẹ hỏi làng hỏi xã hỏi nơi
Hỏi Triều Ông phu phụ đôi người còn không
Câu sanh dưỡng đạo đồng giám phụ
Kết thảo lư bên mộ Triều Ông
Ngỡ là Trời bể mênh mông
Nào hay Thái Tử đem lòng biệt ly
Sự bất kỳ nổi cơn sóng gió
Phát binh thuyền lừng lẫy kéo sang
Lệnh truyền sai vâng lệnh lời vàng
Quyết tìm cho thấy Tiên nàng mới thôi
Chúa thoát hóa vào nơi mán ấy
Luống tìm quanh chẳng thấy nơi đâu
Quan quân gan ruột như bào
Lửa giăng khắp đất khói cao bằng trời
Gieo giặc loạn tiếng người than khóc
Mẹ động lòng thương hỏa tốc ra tay
Bởi vì Ta dân lụy thế này
Phút làm giông tố chìm ngày Bắc Thuyền
Nơi cửa bể nổi liền Thạch Kệ
Dấu đành rành ghi để Nam Minh
Chúa bằng từ hiển Thánh Linh
Muôn dân kỳ đạo phước lành ứng cho
Người gian dục khốn do hơn thiệt
Mẹ cũng làm cho biết sợ kinh
Có khi Mẹ lại hiện hình
Dạy người đều biết thiên sanh mọi bề
Cơn nước lửa nhiều bề khổ ngự
Cũng nghe phen cải tử hoàn sanh
Những loài ác thú sơn tinh
Ra oai lại hiển phép linh khử trừ
Trên hộ quốc đã nhờ thần lực
Dưới muôn dân đều được khương an
Công nên từ giả trần hoàng
Thiên Đình phút giá xe loan về chầu
Lịnh Quốc Triều gia phong Thượng Đẳng
Lập Miếu Đền thờ phụng tôn nghiêm
Long lanh gió cát sương thềm
Bốn mùa hương lửa cung chiêm phụng thờ
Đã nên một cảnh Yên Hà
Một bầu sơn thủy Tiên nga khác thường
Bao nhiêu hổ phục hổ tàn
Núi không thú dữ bể tan sóng kình
Chốn Thần Kinh có non Ngọc Trản
Lối ra vào mở rạng oai linh
Một màu nước biếc non xanh
Gió đưa long xạ lối thanh quản hiền
Dưới trời đội Đức Chúa Tiên
Hiển ứng liền liền Nam Bắc đâu đâu
Hổ lang đều cũng cúi đầu
Cá đua dưới nước voi chầu trên non
Ngàn xưa đã dậy tiếng đồn
Ngàn năm Thánh tích vẫn còn oai linh
Mừng ngày hôm nay gặp Hội Thanh Bình
Kim luân Mẫu Ngự Thánh Minh độ đời.

Mẫu Đệ Nhất Thiên Y A Na

Nghìn thu nước biếc non xanh
Tục truyền có Thánh hiển linh hạ trần
Thánh xưa hai chữ tôn thân
Lọt ra lòng mẹ trước cần tạo con
Thánh xưa ân nghĩa vuông tròn
Trời Nam biển Bắc tiếng còn như vang
Các Lê lần giở quyển vàng
Quốc âm kể lại mấy hàng chép ghi
Cõi Nam có Mẫu Thiên Ya Na
Dấu thiêng thuở trước truyện kia rành rành
Phẩm Tiên vốn ở thiên đình
Đại An Núi Chúa giáng sinh lạ lùng
Giang sơn riêng một Tiều ông
Ở ăn góc núi vun trồng ruộng dưa
Thường ngày bông trái có thừa
Vì ai ngắt hái trái dưa bỗng còi
Tiều ông đêm lượm rình coi
Nhởn nhơ bóng nguyệt bồi hồi áng mây
Người đâu bỗng xuống chốn này
Phẩm dành bậc nhất tác tầy ngoài mươi
Ôm dưa đương giỡn đương cười
Tiều ông gần hỏi: Chứ người nào đây ?
Con ai tác hãy thơ ngây
“A Di Đà Phật” con Thầy Thầy nuôi
Tấm lòng yêu dấu chẳng nguôi
Trẻ qua già cậy lần hồi mại sau
Ít lâu gặp tiết mưa rào
Lòng Tiên phút nhớ động đào ngày xưa
Đình hoa xây đá sớm trưa
Non kia cảnh nọ dây dưa mấy trùng
Tiều ông ngó chẳng thấy ưng
Nổi cơn la giận tưng bừng một khi
Tiểu còn đương nghĩ đương suy
Bỗng đâu nước lụt cội kỳ trôi qua
Trời đưa một chiếc tiên xà
Cho người tiên cưỡi qua ra vời
Mênh mông dưới nước trên trời
Vượt sang bể Bắc gần nơi Yên thành
Tiếng thơm đồn dậy xung quanh
Xa gần đưa tới phụng thỉnh đem về
Trơ như đá nặng như chì
Trăm quân xúm kéo từ từ chẳng lay
Thảy đều ngơ mặt khoanh tay
Ở trong vật ấy chẳng hay có thần
Một mai thái tử nghe tin
Dạo qua xem thử nhân duyên thế nào
Xuống xe liền néo tay vào
Cột kỳ cất nổi cớ sao lạ thường
Người phu thường, bửu phi thường
Duyên kia đã định dễ nhường cho ai
Rước về đặt chốn các đài
Khi hôm trăng rọi khi mai gió nhuần
Cung xanh tuổi tác đương xuân
Cầu Ô còn đợi mây Ngân bấy chầy
Có khi dạo cảnh nhìn cây
Bóng trăng chấp chới làm mây rập rờn
Hương trời sắc nước nào hơn
Bỗng đâu hóa mất như cơn giấc hòe
Hương thừa thấp thoáng còn nghe
Đương khi gặp gỡ ai dè sắc không
Hôm sau gió mát trăng trong
Nhìn cây lại thấy Tiên Dung ra vào
Mười phần cốt cách thanh cao
May thay gặp bạn động vào thiên thai
Đã lòng đoái tới cơ đài
Nhân duyên đầu tá giãi bày thử nghe
Bây giờ nước tỏ niềm tê
Rừng xanh ngỏ nguyện trước sau
Hòa mừng hòa sợ vào tâu thềm rồng
Trên nghe nói sự lạ lùng
Lệnh truyền xét xử cát hung đường nào
Khi nên trời cũng khéo chiều
Tìm ra quẻ tốt ứng vào duyên hay
Truyền cho làm lễ chọn ngày
Cầu xây Ô thước duyên vầy phượng loan
Sắt cầm dìu dặt tiếng đàn
Trước sân mừng thấy quế lan sánh bầy
Song song gái quế trai tài
Xuân xanh sớm nở một cây đội nhành
Dẫu rằng gá nghĩa cung xanh
Quê xưa cảnh cũ ơn tình còn vương
Lạ gì Tiên tích dị thường
Xa đường nhân quả lánh đường phiền hoa
Cội Kỳ sẵn có bởi nhà
Đem hai Tiên tử biến ra ẩn vào
Sóng dồi gió dạt biết bao
Biển xanh một dải cù lao mấy trùng
Nước non xanh biếc một vùng
Đại An đâu đó xa trông mịt mờ
Cù huân thoắt đã tới bờ
Gặp ai già cả đợi chờ hỏi han
Hỏi tiều tiều đã úa tàn bấy lâu
Rừng dưa man mác đầu đầu
Chạnh lòng ân nặng nghĩa sâu chưa đền
Khói hương may hãy còn nên
Cảm lòng tiểu lão cất đền thờ chung
Phương dân buổi ấy người đông
Ăn làm lề lối còn không tỏ tường
Chúa tiên lại mở lòng thương
Dạy phương sinh lý tìm đường lễ nghi
Đất rừng voi cọp thiếu chi
Đón ngăn đủ phép hô trì dành yên
Đoạn rồi tiên lại về tiên
Lên non tạc tượng để miền nhân gian
Phút đầu giá hạc xe loan
Giữa ban ngày đã băng ngàn lên mây
Cõi Nam cảm mến đức dày
Mây tuôn nước chảy sầu này khôn nguôi
Từ ngày trâm gãy bình rơi
Khuôn dung vắng hắn tăm hơi ả Hằng
Nhớ lời tỏ vẻ dưới trăng
Cung thuyền dục đã để chừng vượt sang
Quân kia nóng này bàng hoàng
Đốt tan mấy xóm mấy làng gần xa
Lại không kiêng đến tượng bà
Từ bi cho mấy cũng là khó dung
Nổi cơn sóng gió đùng đùng
Làm cho họ đắm xong một lần
Giữ dòng cột đá khôn vần
Dấu thiêng còn đó uy thần còn đây
Khi đỉnh núi khi trên mây
Khi lên voi cưỡi khi dầy cá bơi
Hòn Cù Hòn Én dạo chơi
Sấm ran ba tiếng bóng ngời giữa không
Oai linh hiển hách lạ lùng
Gió tiên mây phật cảm thông rất mầu
Phương dân mừng đội ơn sâu
Cùng nhau xây tháp dựng lầu nguy nga
Giữa xây một tháp thờ Bà
Kề bên tả hữu dựng một tòa thờ Ông
Hai bên bốn tháp công đồng
Thờ Cô thờ Cậu thờ Ông Bà tiều phu
Giữa dòng bia đá còn nêu
Dấu xưa khoa đấu khôn điều giải uy
Bia đá mà cảnh cũng kỳ
Trái cây ăn được đem đi thì dừng
Hai bên bốn tháp lừng lừng
Năm hòn lổ nhổ như giăng trước tòa
Kìa Hòn Én nọ Hòn Gà
Hòn Lớn Hòn Bé với là Hòn Bông
Tả biên có mũi cây Sung
Hữu biên có núi mũi Ông chầu vào
Đêm ngày sóng vô lao xao
Đàn ve quyến gió thanh tao tứ mùa
Có Viên Kiệu có Phượng Hồ
Có lèn Ngũ Nhạc có đồ Bát Tiên
Thường năm tứ quý Tam nguyên
Hương thơm đèn rạng dâng lên lễ thường
Kiệu ngai tàn quạt rõ ràng
Kim Đồng Ngọc Nữ hai hàng hầu trong
Này tên này nỏ này cung
Này đồng nữ múa này đồng nam ca
Tôn thần chẳng những người ta
Thượng cầm hạ thú cũng là đua nhau
Cọp hùm đâu cũng cúi đầu
Cá dâng dưới nước voi chầu trên non
Nghìn thu di sản vẫn còn
Còn trời còn nước còn non còn dài
Sử xanh chói choi khôn sai
Giúp vua dẹp giặc, ra tài làm mưa
Qua quan này nhớ thuở xưa
Sứ thần Chân Lạp phải đưa mình hầu
Diễn sơn này nhớ thuở dâu
Trung quân bắt cọp khẩn cầu cũng linh
Có khi đèo Cả hiện hình
Có khi Tầm hới hiến linh hạ màu
Khắp trong dân chúng đâu đâu
Giúp người chẳng quản khấu cầu tự nhiên
Thần Kinh phong cảnh thiên nhiên
Gần làng Cát Hải có đền Huệ Nam
Quốc sơ mới dựng linh am
Đến năm Minh Mạng thập tam sửa dần
Đền thiên chúa, miếu thủy thần
Ngạt ngào hương khói ngàn xuân đến giờ
Hàm long điện tả linh tòa
Cảnh nào in cảnh tiên cư lạ thường
Nhìn ra trước mặt sông Hương
Dựa vào Hòn Chén lại càng thanh tao
Nước trong như suối động đào
Cây xanh như vẽ cù lao Tam thần
Núi xanh nước biếc mười phần
Thông reo chim hót họa vần sinh ca
Vực sâu trạnh lớn nỗi ra
Ở thần linh đó ấy Hà Bá chăng
E khi chầu chực khôn lường
Đem đỗ thủy phủ lên mừng cõi tiên
Nghìn thu non nước thiên nhiên
Thiên Ya Na Thánh Mẫu, lưu truyền sử xanh

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.