Chầu Văn Mẫu Thủy Cung – Thánh Mẫu Đệ Tam Thủy Quốc

Chầu Văn Mẫu Thuỷ Cung - Đệ Tam Xích Lân Thuỷ Cung Thánh Mẫu

Trịnh giang biên ngành ngân lai láng
Nguyệt lầu lầu soi rạng Nam Minh
Vốn xưa Thoải Quốc Động Đình
Có Tiên Long Nữ giáng sinh Đền Rồng
Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh
Nết nhu hòa bổn tánh thiên nhiên
Dung nghi khác giá Thần Tiên
Vàng trong nước lệ ngọc miền non côn
Thường chầu chực Kim Môn Ngọc Điện
Duyên Sắt Cầm chưa định nơi nao
Chúa từ gìn giữ thanh tao
Gió đằng vương các thư trao dưới màn
Chốn Thoải Cung có nhà lệnh tộc
Vốn con dòng danh ốc Kinh Xuyên
Xưa nay thế phiệt gia truyền
Thảo Mai nàng ấy tạm quyền tiểu tinh
Chí bình sinh phù đời giúp nước
Ơn Cửu Trùng phó thác biên giang
Vốn sanh Tiên Chúa phi phương
May nhờ lá thắm kết duyên tơ hồng
Trên Vương Phụ có lòng lân mẫn
Cho đôi người duyên phận sánh đôi
Chúa từ kết nghĩa Trần Châu
Đã đành núi thẳm vực sâu khôn nài
Kết duyên hài trăm năm phối thất
Đạo cang thường nhiệm nhặt tóc tơ
Cùng nhau chưa mấy nắng mưa
Ai ngờ ra sự thiên cơ quải người
Trách Thảo Mai đem lòng tráo trở
Giả đầu thư làm cớ chịu oan
Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian
Gieo oan một tiếng đem đầy mười đông
Trên dương thế một mình vò vỏ
Sớm khuya cùng núi cỏ ngàn cây
Đèn trăng chiếu đá màn mây
Dưỡng thân hoa quả bạn bè trúc mai
Thường vãng lai thanh sơn tú thủy
Lốt đại sà tượng thể ngư long
Có phen biến tướng lạ lùng
Mày ba yểu điệu má hồng phi phương
Có phen nhớ gia hương ròi rọi
Mặt trông chừng dạ rối châu sa
Có phen nương bóng Hằng Nga
Tưởng bề phu phụ xót xa muôn phần
Có phen trách lang quân bội bạc
Nghe ai làm chếch mát duyên ai
Có phen liễu úa đào phai
Phận đành chắp chi chông gai việc thường
Có phen tưởng giày sương giãi nguyệt
Bảo thân phàm mong quyết về không
Có phen giãi nắng non sông
Âu sầu đến nổi hình dung rõ ràng
Bốn bề những hổ lang ác thú
Vật đều cùng mến chúa hôm mai
Đua nhau trăm giống ngàn loài
Dâng hoa cúng quả chẳng nài công phu
Vẹn mười thu giãi dầu mưa nắng
Tin cá trầm nhạn vắng khôn hay
Chúa còn nhiều nổi riêng tây
Hay đâu con tạo vẫn xoay bởi trời
Trên dương thế có chàng nho sĩ
Văn tú tài Liễu Nghị là tên
Chàng từ nhỏ ấm xuân huyên
Sôi kinh nấu sử hằng chuyên việc mình
Thời gặp thuở Thần Kinh hội thi
Dặm đường trường Liễu Nghị vừa ra
Vũ môn mong nhảy đợt ba
Chỉ hiềm con tạo xoay ra ghẹo người
Đi đến nơi đầu non hiu quạnh
Bóng ác tà sương lạnh trời hôm
Bốn bề hoa cỏ xanh um
Trước hàng liễu úa sau chùm đào phai
Lòng quân tử đeo đai cảnh vật
Thấy Chúa ngồi tư chất dung nhan
Má đào mày liễu chứa chan
Nĩ non hòa khóc hòa than một mình
Chàng trông thấy sự tình cảm kích
Chúa ngập ngừng nhủ khách rằng cây:
“Sơn lâm rừng vắng đường này
Cớ sao quân tử đến đây lạc loài?
Bây giờ đã trăng soi ác lặng
Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao?”

Thưa rằng: “Hàn sĩ chí cao
Mười năm đèn sách công lao chuyên cần
Hội Long Vân còn chưa gặp gỡ
Sự duyên này cơn cớ bởi đâu
Dám xin kết nghĩa Trần Châu
Kẻo còn thục nữ đeo sầu dưới trăng”

Chúa nghe nói dùng dằng khôn xiết
Mới nhủ chàng cả quyết sao nên
“Thiếp nay người dưới Thoải Cung
Nghiêm đường trước đã định duyên giai kỳ
Khăng khăng giữ đạo tùy sau trước
Chẳng ngỡ chàng tính nước lòng mây
Bỗng không gắp lửa bỏ tay
Gieo oan một phút đem đầy mười đông
Phiền quân tử tin thông nhạn cá
Duyên sự này thiếp há đơn sai”

Chàng rằng: “Nguyện đặng như lời
Sá chi bể rộng sông dài quản đâu”

Nhờ bóng nguyệt đêm thâu soi tỏ
Giải tất lòng thề có cao xanh
Hàn Sơn nghe vẳng tiếng kình
Kim ô bóng đã lộ hình ra đâu
Chúa hiềm nổi bấy lâu oan ức
Phó Kim Thoa một bức Thư Phong
Dặn Chàng ra mái bể Đông
Tới đâu xem thấy ngô đồng cây cao
Lấy Kim Thoa gõ vào cây ấy
Dưới Thủy Tề nghe thấy không lâu
Tùy cơ ứng biến nhiệm mầu
Hẹn Chàng thưa gửi gót đầu đinh ninh
Chàng quân tử tâm tình sau trước
Dạ bùi ngùi chân bước đường thông
Bể nào lai láng xa trông
Nửa lo sự chúa nửa mừng sự duyên
Sông Vân Hán băng miền Thoải Phủ
Đến ngô đồng tay gõ một thôi
Tự nhiên nổi trận phong lôi
Giữa dòng trông thấy một đôi Bạch Sà
Chàng trông thấy sự đà ứng hiện
Mới hay lời Chúa phán phân minh
Bạch Sà lui xuống Động Đình
Bách quan rẽ nước giàng xanh rước chàng
Rước chàng xuống Điện Vàng Thoải Phủ
Thấy triều thần văn võ đôi bên
Tiêu thiều nhã nhạc tấu dưới trên
Tả biên Ngư Mục, hữu biên Bạch Sà
Kim Quy Sứ tâu tòa Ngọc Bệ
Mời phán đòi Liễu Nghị vào trong
Chàng liền dâng bức thư phong
“Bái lạy Vua Cha
Thân nữ nhi phận gái hồng nhan
Sanh vào cửa Quyền Môn Quý Tộc
Tam niên dưỡng dục, Phụ Tử tình thâm
Khi lớn khôn duyên bén sắt cầm
Khăng khăng giữ tòng phu phải đạo
Trách bà Nguyệt Lão khéo quải duyên ai
Vì tiểu tinh là cái Thảo Mai
Đầu thư giả làm ra oan trái
Trách chàng cả dạ nghe đứa tà gian
Bảo rằng con nết ở đa đoan
Đem đầy chốn rừng xanh núi cỏ
Một mình vò vỏ nào có ai hay
Ngày gió đưa bạn với cỏ cây
Đêm trăng bạc biết cùng ai năn nỉ
Bỗng đâu nho sĩ bước đến thẩn thơ
Nguyệt tà tà thẩn thẩn thờ thờ
Nhìn nông nỗi dừng chân khốn bước
Trước sau sau trước mượn bút thay lời
Chiếc kim thoa cùng bức thư này
Dẫu nghìn dặm công lệnh đừng có tiếc
Gieo oan một tiếng vắng vẻ mười đông
Sự xoay vần đã có Thiên Công
Thư một bức xin dâng lên Vương Phụ”

Phụ Vương xem thấy trong lòng quặn đau
Trách Kinh Xuyên cơ cầu độc giữ
Mới truyền đòi Hoàng Tử Xích Lân
Phán rằng: “Chúa phải gian truân
Con Vua rước xuống Thoải Cung chớ chày”

Lời Vương Phụ truyền ngay tức khắc
Tôn Ông bèn hóa phép thần thông
Chiêng kêu, cờ phất, trống rung
Khắp hòa thế giới đều cùng mênh mông
Bốn phương trời mưa rong chớp giật
Quỷ cùng tà thán khắp mọi nơi
Chúa Tiên về tới Long Ngai
Tội Kinh Xuyên với Thảo Mai đi đày
Công cán này ai bằng Liễu Nghị
Sắc phong làm Quốc Tế Thoải Cung
Chàng từ vâng lệnh Thiên Nhan
Duyên ưa phận đẹp sắc ban trọng quyền
Duyên Thiên Công bày yên thuở trước
Người phàm trần lại được sánh Tiên
Chàng từ kim cải bén duyên
Có danh trí tuệ có quyền anh linh
Dù ai phải bệnh cùng khí huyết
Lập đàn lên chầu hát lại tha
Dầu ai dâng tiến hương hoa
Tiền tài lưu loát cửa nhà khang ninh
Dầu ai dốc lòng thành phụng bái
Phúc đến nhiều lộc lại đề đa
Toàn gia con cháu vinh hoa
Mãn đường phú quý trẻ già bình an
Chữ rằng: "Thánh giáng lưu ân"
Thánh giáng lưu phước thiên xuân thọ trường.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.