Chầu Tám Bát Nàn – Đông Nhung Đại Tướng Quân

Sắc Phong: Đệ Bát Thánh Chầu Bà Vũ Thị Bát Nàn Đông Nhung Đại ướng

Sự Tích

Chầu Tám Bát Nàn giáng sinh dưới thời nước ta còn trong ách đô hộ của nhà Đông Hán, tên thật của bà là Vũ Thị Thục Nương, con gái thầy thuốc Vũ Chất - Vợ là Hoàng Thị Mầu, nguyên quán ở Phượng Lâu, Bạch Hạc (nay thuộc Vĩnh Phúc).

Tương truyền, hai ông bà luôn sống thiện lương, hiền đức. Vốn nhà Ông Vũ Công Chất thường rời nhà đi hái thuốc về chữa bệnh cho người dân. Sau một lần ông góp công tu sửa miếu thờ Sơn Tinh Công chúa thì được thần cử người đem bè gỗ quý đến tạ ơn. Cùng lúc đó, Thái bà mộng thấy một cô gái mặc áo cánh sen vô cùng xinh đẹp cũng đến nhà ông bà xin được làm con trả ơn sửa đền.

Năm 17 (Đinh Sửu), Sau 9 tháng 10 ngày, giờ Dần, ngày 15 tháng 8. Bà sinh được một cô con gái, đặt tên là Vũ Thị Thục.

Sinh thời, Vũ Thị Thục là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, đẹp người, đẹp nết, giàu lòng nhân ái, yêu nước, thương dân. 

“Mười sáu tuổi say sưa nghiên bút

Trí thông minh học một biết hai

Kính thư thơ phú văn bài

Thư văn bầu bạn bao người mến thương

Mười tám làm thơ yêu nước

Vạch mặt phường xâm lược bất nhân…”

Năm 18 tuổi, bà đính hôn với Phạm Danh Hương, quận trưởng Nam Châu. Bấy giờ, có tên hào mục họ Trần giàu sang quyền thế nhất vùng đã nhiều lần mang lễ vật lớn xin cưới Thục Nương đều bị từ chối, khi biết ông bà Vũ Công Chất cùng Thục Nương đã nhận lễ với Phạm Danh Hương, hắn vô cùng tức giận liền bày mưu tấu lên Thái thú Tô Định vốn nổi tiếng ác động bạo tàn. 

Tô Định được mưu, bèn giả làm khách buôn đến tận nơi chiêm ngưỡng dung nhan Thục Nương, thấy như Tiên nữ giáng trần, khi trở về quân doanh liền sai đem quân bắt ông Chất và Phạm Danh Hương về dinh, ép phải gả nàng cho hắn, nhưng bị từ chối thẳng thắn. Tô Định tức giận, bèn trả thù bằng cách giết cha và chồng chưa cưới của bà và cho quân lùng bắt bà. Không để rơi vào tay Tô Ðịnh, bà cầm song kiếm phá vòng vây, vượt sông Hồng về Tiên La nương thân. Nợ nước thù nhà, bà đứng lên dấy binh chống lại ách thống trị tàn bạo của Tô Định, dựng cờ khởi nghĩa mang 4 chữ vàng "Bát Nạn tướng quân" (Tướng quân phá nạn).

Đôi song kiếm diệt quân xâm lược

Đánh kẻ thù hại nước hại dân

Đứng lên tập hợp nghĩa quân

Thù nhà nợ nước dẹp quân bạo tàn

Theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa

Năm 40, mùa xuân năm Canh Tý, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa. Vì đã đã nghe uy danh của Bát Nàn nên lúc Hai Bà Trưng phát động cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước thì ngay lập tức Hai Bà Trưng cho sứ giả sang mời Bát Nàn hội quân cùng đánh Tô Định. Bát Nàn cùng đội binh sĩ hưởng ứng, cùng các nữ tướng của Hai Bà Trưng đánh bại quan quân Đông Hán. Tô Định chạy trốn về Nam Hải (Quảng Đông, Trung Quốc).

Sau khi đánh đuổi được quân đô hộ, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương). Bà được Trưng Vương phong làm Bát Nàn tướng quân, Trinh Thục Công chúa.

Kháng chiến chống Mã Viện

Năm 42, vua Hán sai tên tướng Mã Viện đem quân sang tái chiếm nước ta bằng nhiều mưu mô thủ đoạn xảo quyệt. Quân ta đã chiến đấu rất anh dũng nhưng cuối cùng vẫn thất bại.

Năm 43 (Quý  Mão), ngày 6 tháng 2, Hai Bà Trưng nhảy xuống sông Hát tự vẫn để bảo toàn khí tiết. Sau khi Hai Bà Trưng hi sinh, bà lui về hương Đa Cương tiếp tục chống giặc. Quân Hán đã tập trung toàn bộ lực lượng để đàn áp. 

Sau 39 ngày đêm giao tranh ác liệt, bà cho mở đường máu chạy về gò Kim Quy (thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Không chịu sa vào tay giặc, cuối cùng bà đã rút gươm tuẫn tiết (Ngày 17 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43).

Sắc Phong

Tước hiệu truy phong của các đời vua sau này dành cho bà:

  • Đời vua Lê Thánh Tông sắc phong: Ý Đức Đoan Trang Trinh Thục Công Chúa.
  • Đời vua Minh Mạng sắc phong: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Chi Thần.
  • Đời vua Khải Định sắc phong: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Thượng Đẳng Thần.

Đền Thờ

Đền Bát Nàn (Phú Thọ)

Nơi Bà giáng sinh ở xã Phượng Lâu, TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền còn được tế lễ trong nghi lễ rước kiệu trong dịp Lễ hội Đền Hùng.

Đền Tiên La (Thái Bình)

Tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trên một diện tích khoảng 4000 m². Mặt trước đền hướng ra phía con sông Tiên Hưng.

Tại đây là nơi nhân dân chịu ơn chầu cũng là nơi di thể chầu trôi về, nên ở đây chầu còn được tôn xưng là Mẫu Tiên La, cũng có khi gọi là Chầu Bát Tiên La. Tại đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện: 

"Khi Chầu Bát đã thác ở trên ngàn, chầu còn hóa phép đốn cây rừng, đóng thành bè gỗ theo dòng trôi về bến sông gần đền Tiên La rồi bà báo mộng cho người thủ đền cùng dân quanh vùng ra đón bè về để tu sửa đền"

Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay đền có quy mô lớn và đẹp, bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, tòa tiền tế, tòa trung tế, thượng điện và hệ thống sân đền. Tòa điện bái đường và thượng điện của đền được kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được chạm trổ long, lân, quy, phượng đan xen với thông, trúc, cúc, mai.

Tòa điện trung tế là công trình kiến trúc đặc sắc được xây dựng theo kiểu phương đình, kiến trúc theo lối "chồng diêm cổ các". Điều đặc biệt là toàn bộ vật liệu xây dựng ở tòa bái đường đều làm bằng đá như hệ thống cột, xà, kèo... Tất cả đều được chạm trổ công phu. 

Ngoài ra, đền Tiên La còn lưu giữ được nhiều đồ tế khí có giá trị thẩm mỹ niên đại từ thời Lê, các tài liệu như thần tích và sắc phong thần thời Lê đến thời Nguyễn, bia đá, minh chuông.

Ngày 15 -> 17 tháng 3 (ÂL), lễ hội đền Tiên La để tưởng nhớ công ơn Chầu Tám Bát Nàn Tướng Quân. 

Ngày nay, để phục vụ đông đảo khách thập phương về dự hội ban tổ chức lễ hội đã mở hội từ ngày 10 -> 20 tháng 3 (ÂL).

Chính hội là ngày 17, trùng ngày hy sinh của bà tướng là ngày 17 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43).

"Tiệc tháng ba vào ngày mười bảy

Công đức bà dân chúng chẳng quên

Tiên La xây điện lập đền

Nhớ ơn Chầu Bát thờ trên Thái Bình”

Phần hội có trò chọi gà, đấu vật, múa rồng, múa sư tử, đặc biệt là phần rước kiệu.

Ngoài ra, vào dịp lễ hội còn có nhiều đoàn văn hoá nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và các tỉnh lân cận cũng đến biểu diễn các tiết mục văn hoá đặc sắc như các vở chèo: Quan âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Phạm Tải Ngọc Hoa. 

Đền Tân La (Hưng Yên)

Toạ lạc trên khu đất rộng với những tán cây cổ thụ xum xuê thuộc địa phận thôn Đoàn Thượng, xã Bảo Khê, thị xã Hưng Yên. Nơi đây, cây cối rậm rạp, hết có niên đại hàng 100 năm tuổi, giống như một khu rừng nhỏ nằm giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ. 

Đền thờ Chầu Tám Bát Nàn tướng quân Vũ Thị Thục, một vị tướng xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống lại quân Đông Hán xâm lược nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc.

Trải qua thời gian, Đền Tân La đã được trùng tu, tu sửa nhiều lần. 

Năm 1991, ngày 25 tháng 01 đền được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 154 /VH – QĐ.

Năm 1992, đã được Bộ VHTT công nhận xếp hạng là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. 

Đền có kiến trúc kiểu chữ Công gồm các hạng mục: tiền tế, ống muống và hậu cung. Các toà đền có kết cấu kiến trúc giống nhau kiểu vì giá chiêng, kèo, quá giang đơn giản. Nội thất đền Tân La được trang trí bằng hệ thống đại tự, câu đối, tượng pháp thếp vàng lộng lẫy và linh thiêng.

Xưa kia, lễ hội Đền Tân La thường kéo dài từ đầu tháng đến cuối tháng 3 âm lịch. Trong lễ hội có tổ chức rước nước từ sông Hồng về đền, ngoài ra còn có các trò chơi dân gian như: Cờ tướng, kéo co, chọi gà, biểu diễn văn nghệ... thu hút đông đảo nhân dân tham gia. 

Ngày nay, lễ hội được tổ chức vào các ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch, nhưng vẫn bảo đảm nội dung và quy trình của lễ hội cổ truyền.

Đền Tân La là một vị trí địa lí có di tích cửa ngõ dẫn vào các điểm di tích trong lòng Phố Hiến. Vì vậy, đền Tân La cần được sự quan tâm đầu tư quy hoạch, trùng tu, tôn tạo để nơi đây sớm trở thành điểm tham quan du lịch văn hoá về nguồn của tỉnh Hưng Yên.

Một Số Đền Khác

Vì Chầu bà là người có công lớn, nhân dân khắp nơi ghi ơn nên bà được nhiều nơi thờ vọng. Ngoài hai ngôi đền nổi tiếng trên, còn rất nhiều nơi khác cũng thờ Chầu Bát như Đền Tiên La tại thành phố Hải Phòng hay đền Đồng Mỏ, tỉnh Lạng Sơn. Ngoài ra còn có một số đền ở tỉnh Thái Bình và Vĩnh Phúc quê bà.

Hầu  Chầu Tám Bát Nàn

Chầu Bát cũng thường hay ngự đồng, Khi ngự đồng Chầu Bà mặc áo màu vàng, khăn vành dây màu vàng, lưng dắt kiếm và cờ lệnh. Chầu bà bái hương, khai quang chứng đàn tràng, múa cờ kiếm.

Chầu Tám nhẹ nhàng khoan thai nhưng vẫn uy nghiêm, không bao giờ hét to hay quát tháo. Thần sắc mạnh mẽ, biểu lộ sự uy dũng của nữ tướng chỉ huy.

Anh linh rực rỡ nét vàng

Dấu thiêng ghi để muôn vàn đời sau

CHầu Văn  Chầu Tám Bát Nàn

Bản 1

Trấn nam thiên hải hà chung tú,
Khách má hồng ý chí trượng phu
Sớm sinh gia cảnh liễu bồ
Tấm gương tiết liệt thiên thu còn truyền
Nhà họ Vũ vốn dòng hào phú
Nơi sơn lâm mở hội muôn dân
Đi qua đỉnh núi non thần
Nhìn xem phong cảnh mọi phần thanh tân
Chợt thấy miếu Sơn Tinh Công chúa
Vốn từ xưa thượng cổ tối linh
Qua cơn loạn lạc đao binh
Gió mưa đổ nát cung đình văng tanh
Lòng mộ đạo thành tâm sửa lại
Dựng đền thờ Tiên Thánh phong quang
Đền thờ điện ngọc trang hoàng
Rồng bay phượng múa cảnh càng hơn xưa
Sự báo ứng bây giờ cũng chóng
Về Phượng Lâu thần mộng báo ngay
Làm con để trả ơn dày
Lại cho bè gỗ trăm cây lập đền
Chợt thấy bóng hoa hiện trước cửa
Gió hào thu tiên nữ hiện thân
Thánh bà từ ấy hiện thần
Ngày rằm tháng tám giờ dần định sinh
Vốn sinh ra hiền hòa nhan sắc
Thỏa so bằng vàng ngọc ai hơn
Văn thơ phú lục toàn tài
Cung tiên kiểm nguyệt khó ai sánh tày
Then định sắt tháng ngày ghi tạc
Quan Nam Chân xin bắc cầu ô
Ai ngờ bất nghĩa Tô Định
Tham hồng hám sắc mưu mô bạo tàn
Nhà họ Vũ mắc quan vị kế
Đức Vũ ông nhạc tế tình thâm
Tấm lòng chí huyết càn khôn
Hai hàng châu lệ đằm đằm tuôn rơi
Dân nghe nói phân minh uấn khúc
Ai mà không tức ruột nóng gan
Trên thời phụng sự chay đàn
Ngoài thời luyện tướng trong thời khao quân
Ngôi cột rồng rêu xanh tự phủ
Sách ngàn thu Tiên nữ còn ghi
Kiếm cung tập luyện quản gì
Đã cam tấc dạ liều thì một phen
Đôi song kiếm diệt quân xâm lược
Đánh kẻ thù hại nước hại dân
Đứng lên tập hợp nghĩa quân
Thù nhà nợ nước dẹp quân bạo tàn
Tiệc tháng ba vào ngày mười bảy
Công đức Bà dân chúng chẳng quên
Tiên La xây điện lập đền
Nhớ ơn Chầu Bát thờ trên Thái Bình.

Bản 2

Đất nước bốn ngàn năm lịch sử
Biết bao trang liệt nữ anh hùng
Đôi vai nghĩa nước tình chồng
Phất cờ đuổi giặc chiến công lưu truyền
Năm bốn ba kỷ nguyên thứ nhất
Đông Hán tràn sang cướp nuớc ta
Tội gây trời đất ko tha
Sát phu cướp phụ bao nhà nát tan
Dân khắc khoải ngày đêm mong mỏi
Ai người lo đánh đuổi thù chung
Phượng lâu đất ấy vua hùng
Có ông Vũ Chất vốn dòng nho gia
Nghề thang thuốc gần xa độ nạn
Hoàng Thị Mầu kết bạn trăm năm
Quỳnh giao hoa nở một bông
Ông bà thỏa nỗi năm mong tháng chờ
Tấm hình hài trẻ thơ đẹp đẻ
Gái hay trai cha mẹ sinh ra
Ông bà bàn lại tính qua
Đặt tên con gái tự là Thục Nương
Vẻ trang nhã hiện lên khuôn mặt
Tóc mây xanh da ngọc môi hông
Mày ngài mắt phượng lưng ong
Ánh hoa pha tuyết đẹp lòng mẹ cha
Mười sáu tuổi say sưa nghiên bút
Trí thông minh học một biết hai
Kinh thư thơ phú văn bài
Thư văn bầu bạn bao người mến thương
Mười tám làm thơ yêu nước
Vạch mặt phường xâm lược bất nhân
Khổ đau đói rách nợ nấn
Hay đâu số phận thiên đình định cho
Vì Đông Hán mưu mô xảo trá
Kéo quân sang cướp của giết người
Gây lên tội ác tày trời Thái thú
Tô Định chính người chủ mưu
Bắt dân mò ngọc trai đáy bê
Lên rừng tìm vật quý công dâng
Ngà voi tê giác hươu nhung
Bóc dằn mưa nắng thấm quần đòn roi
Dòng thơ hay bao người đón đọc
Chỉ mong sao xóa sạch bất công
Chỉ mong xóa hết nợ nần
Chỉ mong sớm thoát khỏi vòng xâm lăng
Phạm Hương chức Nam Chân quận trưởng
Lẽ thương dân sống dạ cơ hàn
Tuy rằng mũ áo xênh xang
Nhưng lòng thanh bạch chẳng làm điều nhơ
Được Vũ công ưng cho làm rễ
Chọn ngày lành làm lễ kết hôn
Tô Định sẵn có lòng tham
Ao tù khát nước rồng vàng tắm chung
Đức Vũ Công không kìm uất hận
Chửi mắng tên Tô Định bất nhân
Tô Định lệnh chém đầu ông
Sai quân sửa chiếc kiệu rồng đón dâu
Được tin báo long đau như xé
Thục nương nhờ gửi mẹ nơi xa
Ung dung đến trước kiệu hoa
Trả lời dõng dạc ta đây sẵn sàng
Nhận lễ vật nhà quan mang đên
Các ngươi mau mau đứng lùi ra
Chỉnh tề khăn áo bước ra
Kiếm vung miệng thét chẳng tha kẻ thù
Quân Tô Định vây thành đứng phục
Thục nương ra tới khúc sông
Hồng Thấy thuyền câu nhỏ bỏ không
Kiếm thay chèo lướt theo dòng về xuôi
Bảy ngày đêm đội trời đạp nước
Rẽ sạch lau tìm trốn nương thân
Tiên La cảnh vật tĩnh tâm
Nấp sau Tam Bảo dần dần thiếp đi
Lòng lo nghĩ thù nhà nợ nước
Bao dân lành chẳng được yên thân
Tiên La chiêu dụ nghĩa quân
Tích lương luyện kiếm cùng dân diệt thù
Trưng Nữ Vương nữ trung anh tú
Biết Thục Nương nữ chủ phất cờ
Sai quân mời hịch bấy giờ
Ba cây chụm lại lên gò núi cao
Hợp nghĩa binh ba đào bảy động
Thục nương thời đại tướng tiên phong
Ra quân sấm động uy hùng
Dẹp tan quân giặc sắc phong Bát Nàn
Ba năm giữ giang sơn đất nước
Quân Hán thời ngang ngựoc bạo tàn
Sai Quân Mã Viện kéo sang
Lệnh truyền binh tướng sẵn sàng xông pha
Quân kéo về ngã ba Đồng Mỏ
Giặc ngông cuồng cờ đỏ vây quanh
Lệnh truyền hiệu triệu khắp thành
Thù nhà nợ nước quên mình xông pha
Đêm thanh vắng canh ba lạnh lẽo
Hạt mưa rơi nặng trĩu ngàn cân
Gươm thề tuốt kiếm cầm tay
Lâm râm khẩn nguyện đất dày trời cao
Có thấu phận tơ đào yếu liễu
Nợ thù nhà há chịu khoanh tay
Phạm Hương chàng hỡi có hay
Chứng cho lòng trẻ dãi bày hôm nay
Khấn xong đốt xác quân thù
Thung dung nhẹ bước trời vừa rạng đông
Quân Đông Hán ầm ầm kéo tới
Bủa quân vây phơi phới cờ bay
Hùm thiêng gặp bước không may
Lẽ đầu lại để vào tay bạo tàn
Lấy kiếm bạc thân đào tự sát
Gốc thông kia ghi tạc sử xanh
Bát Nàn đại tướng nổi danh
Tháng ba mười bảy năm dần về Tiên
Anh linh rực rỡ vạn niên
Dấu thiêng ghi để lưu truyền đời sau
Đệ tử con khầu đầu vọng bái
Tiến văn chầu nhớ lại tích xưa
Bao năm dầu dãi nắng mưa
Công ơn muôn thuở ngàn đời không phai.

Bản 3

Dâng văn tiên chúa Bát Nàn
Đền thờ Đại Tướng Bát Nàn Tiên La
Đền thờ Chầu Bát Tiên La
Hưng Hà là huyện, Đoan Hùng là thôn
Thờ bà Đại Tướng Đông Nhung
Nữ trung oanh liệt, tiếng vang khắp vùng
Vào những năm nửa đầu thế kỷ
Năm bốn ba nữa trước Công Nguyên
Có người con gái thảo hiền
Quê người Bạch Hạc ở vùng Phượng Lâu
Tuổi thanh xuân như hoa đang nở
Đoá phù dung tên gọi Thục Nương
Mặt hoa vẻ tốt phi phương
Tiền duyên đã định hậu duyên nhỡ nhàng
Ghét quân Tô Định bạo tàn
Ghét phường cướp nước ngang tàng hại dân
Muốn cùng nàng kết duyên nhân
Lòng son đã quyết lìa thân cũng đành
Thân nữ nhị thù nhà nợ nước
Cùng Trưng Vương cất bước ra đi
Kiếm cung tập luyện ngại gì
Đã cam tấc dạ liều thì một phen
Đôi song kiếm diệt quân xâm lược
Đánh kẻ thù hại nước hại dân
Đứng lên tập hợp nghĩa quân
Giúp dân cứu nước dẹp quân bạo tàn
Tiệc tháng ba vào ngày mười bảy
Công đức Bà dân chúng chẳng quên
Tiên La xây điện lập đền
Nhớ ơn Chầu Bát thờ trên Thái Bình
Ngôi đền thờ anh linh cổ tự
Nét son vàng rực rỡ oai linh
Hôm nay dâng tiến văn trình
Bát Nàn Đại Tướng độ trì chứng minh.

Bản 4

Miễu

Việt Nam thuở dưới quyền Đông Hán
Giang sơn ta ảm đạm thê lương
Giận thay Tô Định bạo cường
Đem quân dày séo quê hương cõi bờ
Thuở bấy giờ có nhà họ Vũ
Nẩy chồi lan một nụ xinh tươi
Nhụy phong, trang khuyết tuổi mười
Thơ văn xem cũng ít người khôn so
Lực cử định dành cho nữ kiệt
Đường kiếm hoa khoanh nguyệt rạch mây.

Thổng

 Tuổi xuân vừa độ trăng đầy
Môi son mắt phượng, má hây tuyết hồng
Nét ngọc trong sánh cùng trăng nước
Tô Định kia muốn ước duyên hài
Từ thân quyết một liều hai
Lẽ đâu lại gả cho loài súc sinh
Tô Định nổi bất bình sấm sét
Tin cha già lửa đốt dầu sôi
Phạm Hương chàng đã qua đời
Thét đòi nợ máu vung đôi kiếm thần.

Bình

Máu thù ngập đôi chân nữ kiệt
Tấm áo xanh máu huyết phủ dầy
Tay thần phá mấy vòng vây
Gót Tiên mải miết trời mây tối dần
Băng tới bến thấy thuyền nan nhỏ
Đôi kiếm thần thuận gió chèo bơi

Trận huyết chiến bụi mà trời đất
Chầu Bát Nàn nhờ phật độ cho
Một mình chém giết bao thù
Xông pha giữa đám quân thù tên bay
Vung kiếm bạc đôi tay đã mỏi
Phá vòng vây thẳng lối ra sông
Hiếu trung trọn vẹn dãi cùng trời cao
Lấy kiếm bạc thân đào tự sát
Gốc thông kia ghi tạc sử xanh.

Nhịp một

Bát Nàn đại tướng nổi danh
Tháng ba mười bảy năm Dần về tiên
Dân nhớ ơn lập đến phụng sự
Trời ban cho nhị tự "tối linh"
Bảng vàng cứu nước thơm danh
Gươm thiêng để lại sử xanh muôn đời.

Dồn

Nhớ ngày hội Đức Bát Nàn vãng lai
Đệ tử nay dâng bản văn tiến
Công đức kia trời biển còn mang
Anh linh rực rỡ nét vàng
Dấu thiêng ghi để muôn vàn đời sau.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.