Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn được xem là hóa thân Mẫu Thượng Ngàn hoặc hầu cận bên Mẫu. Thuộc hàng thứ hai trong Tứ Phủ Chầu Bà, sau Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên. 

Thần Tích Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Con Vua Đế Thích

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn là Tiên nữ, con Vua Đế Thích trên Thiên Đình, quyền cai quản sơn lâm, 81 cửa ngàn, 36 động sơn trang. 

Trong tòa Sơn Trang, Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn có quyền hành tối cao. Bà là hình mẫu của dân Việt ta trên Thượng Ngàn. 

Bách Thần Lục

Theo Bách Thần Lục, Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn được đồng nhất với Thánh Tích Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ, Lạng Sơn. Chính là La Bình Công Chúa con của Sơn Tinh, quản cai 81 cửa ngàn ở Nam Giao.

Thần Tích Của Dòng Mo Họ Hà

Coi việc giữ Đền và tế tự chép:

Đông Quang Công Chúa (Chầu Đệ Nhị) tên húy là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuống được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông và ngoại vi. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc, Hà Bổng (Trại chủ Quy Hoá) bị hy sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên.

Ông bà sinh hạ được một con trai. Khi Ông tạ thế, bà Kiểm và con trai ở lại Đồng Cuông. Bà giúp dân lập ấp, dạy dân bách nghệ, chữa bệnh cứu đời. Khi tạ thế bà thường hiển linh giúp dân và những người thuyền chài lái buôn ngược xuôi sông Thao gặp hoạn nạn.

Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bà bên tả ngạn, đối diện với miếu.

Ghi Chép Của Lê Quý Đôn

Trong Kiến Văn Tiểu Lục quyển X mục "Linh tích" thời hậu Lê, cụ Lê Quý Đôn viết:

"Văn Châu, một người thuyền hộ xã Kinh Chủ, huyện Thanh Ba (Lâm Thao, Phú Thọ) là học trò Hiệu như Nguyễn Đình Kính. 

Giữa niên hiệu Bảo Thái (1720-1729) đi buôn ở Đông Quang (Văn Yên, Yên Bái) bến sông này có miếu thờ Đông Quang Công Chúa vẫn nổi tiếng anh linh. Tục truyền Công Chúa là vợ Đại vương miếu Ngọc Tháp huyện Sơn Vi (Lâm Thao).

Một hôm trời đã tối, Văn Châu thấy một người từ trong miếu Đông Quang đi ra đến chỗ thuyền đỗ, gọi tên mình và bảo rằng: 

"Khi thuyền nhà ngươi trở về phiền nhà ngươi nói giúp là kính tạ Đại vương, Chúa bà đã sinh con trai rồi, gửi lời về bảo để đại vương biết”. Nói xong liền biến mất.

Đường thuỷ mà thuyền buồm đi từ Đông qua miếu Ngọc Tháp, Quang đến Ngọc Tháp phải ba, bốn ngày, thế mà ngày hôm ấy, Văn Châu bắt đầu đi từ sáng sớm mà đển giờ Thân đã tới Ngọc Tháp (chỗ này núi đá mọc nhô ra bến sông như hình ruột ốc, miếu ở trên núi, bên cạnh miếu có chùa Lăng Nghiêm) Văn Châu theo lời thầy dặn, đứng ở đầu thuyền nói lại rồi đi".

Hầu Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Chầu Bà thường Ngự đồng nhất trong Tứ Phủ Chầu Bà.  Ngài về Ngự y áo màu xanh lá, quầy trắng/đen, khăn chít buồm, đai thắt màu xanh,...

Khi Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn Ngự đồng, Bà làm lễ dâng nhang, khai quang, múa mồi, hiến tịnh thủy nghe văn, phán truyền, ban phát lộc sơn trang.

Chầu Bà hay Ngự về trong các dịp khai đàn mở phủ để chứng đàn Sơn Trang. Đặc biệt vào dịp lễ Thượng Nguyên sẽ có thêm nghi thức trình trầu.

Những con tôi đệ tử có căn số, đã tôn nhang bản mệnh sẽ ngồi giữa sân chầu. Phủ khăn đỏ & trên đầu đội mâm trình trầu (trầu, cau, thuốc, cặp đèn,...). Người trình trầu đặt thêm 15 nghìn dâng lên Chúa Sơn Trang và Thập Nhị Tiên Nàng hầu cận. Chầu Bà múa mồi chứng mâu trầu rồi xin đài âm dương.

Đền Thờ Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Đền Đông Cuông

Cũng như Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị được thờ phụng ở bất cứ nơi nào có rừng núi có Mẫu Đệ Nhị ngự. Nhưng khi thỉnh chầu, người ta thường hay nghĩ tới Đền Đông Cuông là nơi in dấu rõ nhất ở tỉnh Yên Bái.

Ngôn từ dân gian trước đây định danh "Đền Đông", "Đền Mẫu Đông". Khánh tự và sớ văn ghi rõ "Đông Quang linh từ", còn bây giờ là "Đền Chầu đệ nhị Thượng Ngàn".

Từ lâu, Đền Đông Cuông xã Đông Cuông nổi tiếng là ngôi đền linh thiêng, hàng năm thu hút đông đảo nhân dân cả nước đến dâng hương, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho mình và người thân một năm gặp nhiều may mắn. Vị trí đền nằm ở huyện Văn Yên, cách thành phố Yên Bái khoảng 50 km. Đền được xây dựng ở nơi có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, núi sông hoà hợp nên vừa là di tích, vừa là thắng cảnh đẹp của tỉnh Yên Bái.

Ngày 03/02/2009, Đền Đông Cuông đã đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.

Đền còn có tên gọi là đền thờ thần Vệ quốc vì bên cạnh việc thờ Mẫu Thượng Ngàn và Chầu Đệ Nhị, đền còn thờ các vị có công với nước chống giặc Nguyên - Mông (thế kỷ 13), đó là một số tướng người dân tộc ở địa phương. Thời phong kiến, Chư thần Đông Cuông được bốn đời vua phong sắc về công lao bảo vệ đất nước, che chở nhân dân và xã Đông Cuông được đặc cách chuẩn y cho phụng thờ các vị chư thần tại đền.

Năm 1914 (Giáp Dần), nghĩa quân Kinh - Dao - Tày huyện Trấn Yên khởi nghĩa chống Pháp thất bại bị chính quyền thống trị Pháp hành hình trong đó có năm người Tày họ Hà, Hoàng, Lương, Nguyễn quê ở Đông Cuông, các vị được tôn thờ tại đền.

Dòng họ Hà cho biết tổ phụ của họ là Hà Văn Thiên đã từng lãnh đạo địa phương đánh giặc Nguyên thời Trần sau bị tử trận và được dân làng lập miếu thờ bên Ghềnh Ngai (xã Tân Hợp huyện Văn Yên). Miếu làm theo kiểu nhà sàn chân thấp, to hơn miếu hiện nay. Vợ ông là Lê Thị Kiểm và con trai ông khi tịch diệt cũng được dân thờ bên Ghềnh Ngai và ít lâu sau, ban thờ mẹ con được di sang đình cả bên Đông Cuông.

Kế từ khi triều đình phong sắc, đình được mở rộng, tông trang, dân dà cải đối thành miếu mà Cụ Lê Quý Đôn thời Hậu Lê đã ký lục. Triều Nguyễn, miếu được nâng thành đền và thánh từ trong Đại Nam Nhất Thống chí định danh là "Đền Thần Vệ Quốc" gọi theo sắc phong. Đền lúc này vẫn bằng gỗ làm theo kiểu nhà sàn chân thấp. Sau sự biến Giáp Dần (1914), dân tổng Đông Cuông góp tiền đón thợ Hà Đông, Nam Định lên đúc tượng đồng Vua Mẫu và Vua Con.

Năm 1924, một nhà buôn lâm sản ở mấy cửa ngòi quanh Đông Cuống bỏ tiền và vận động thiện nam tín nữ góp của đón thợ Hương Canh (Vĩnh Yên) lên gạch đền Mẫu và tu sửa đền Ông Ngềnh Ngai. Dịp này, con nhang đệ tử cung tiến khá nhiều đồ thờ phong phú: chuông, đinh, lư, hoành phi, đại tự, câu đổi, bát bửu, y môn, rèm cung, tán họng, hạc nến, mâm bồn... mang đậm yếu tố văn hoá - tín ngưỡng đồng bằng. Tinh tuý và màu sắc Việt Tày hoà trộn sâu sắc từ thời điểm này.

Năm 1979, nỗ ra chiến tranh biên giới phía Bắc. Đền dỡ đi để xoá mục tiêu. Đồ thờ cất giữ cẩn thận. Năm 1980, Hội người cao tuổi ở khu Bến Đền tái dựng đền bằng vật liệu tranh tre nứa lá.

Ngày 4/01/1995, thể theo nguyện vọng nhân dân,  UBND tỉnh Yên Bái ra quyết định cho phép nhân dân xã Đông Cuông huyện Văn Yên "xây dựng lại ngôi đền Đông Cuống... đúng trên nền ngôi đền cũ... để phục vụ việc tôn kinh thờ cúng. 

Đền được Nhà nước và nhân dân dành cho một khu đất 17.600 m², tạo thành khuôn viên lý tưởng: Tiền diện là sông Hồng và nản đá Ghềnh Ngai luôn gợn sóng, sau lưng là đồng ruộng xen đồi bát úp, phía phải là Khe Ao Sen, bên trái là con đường đất từ đường sắt Yên Bái - Lào Cai chạy vào đền.

Sau nhiều năm tôn tạo, tu bổ, đền Đông Cuông toạ lạc khang trang trên nền cũ. Kiến trúc đền Đông Cuông mang dáng dấp kiến trúc đền chùa thời Lý Trần với mái ngói cong và hình lưỡng long chầu nhật. Các cột đền làm bằng gỗ tứ thiết được sơn son thếp vàng hình rồng cuốn trang nghiêm. Trên các đầu dư, đầu bẩy, xà ngang, cổn nách, câu đầu... được trạm khắc tỉ mỉ hình tứ linh và hoa lá. Các bức trạm khắc tinh vi đạt trình độ cao cả về kỹ thuật phục chế và mỹ thuật.

Khuôn viên của Đền được mở rộng, cây xanh toả bóng mát sum xuê, điểm xuyết những vạt rừng đào, rừng mận đang mùa hoa nở rộ. Mặt đền quay về hướng Nam, địa thế tựa vào hình sông thế núi với cảnh sắc thiên nhiên hữu tình đẹp như bức tranh thuỷ mặc. Con đường dốc độc đạo chạy từ phía Đông lên đền uốn mình quanh co mềm như dải lụa vắt ngang lưng chừng núi khiến khung cảnh càng thêm thâm nghiêm, tĩnh mịch.

Với tín ngưỡng thờ mẫu và các anh hùng có công với đất nước, đến Đông Cuông mang ý nghĩa giáo dục truyền thông lịch sử, văn hoá sâu sắc. 

Đây là di tích lịch sử văn hoá lâu đời, điểm du lịch văn hoá, sinh thái lý tưởng dành cho du khách trong chuyến hành hương về nguồn.

Phú Khánh
 

Blog này chia sẻ kiến thức về thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ là di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2016.Tín ngưỡng thờ Mẫu đi liền với dân tộc Việt Nam, truyền thống bao đời nay, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.